Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? (HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG)



Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Hoàng Phủ Ngọc Tường

            I. Về thể loại - loại hình
            Ai đã đặt tên cho dòng sông ? là tác phẩm nằm trong loại hình kí và thuộc thể loại bút kí văn học. Bút kí văn học có dung lượng gần như truyện ngắn, ghi chép về những sự kiện, con người có thực, đồng thời trình bày trực tiếp cảm nhận, suy nghĩ của tác giả về những sự kiện, con người ấy. Đọc một bút kí, cái mà người ta chờ đợi trước hết là tính có vấn đề của nó, gắn liền với việc tác giả thể hiện được những khám phá sâu sắc về đối tượng, đề xuất được những tư tưởng, quan niệm có ý nghĩa đối với đời sống hiện tại.
            Ranh giới giữa bút kí văn học và tuỳ bút văn học nhiều khi khá nhập nhằng, đặc biệt trong trường hợp tác giả quan tâm nhiều tới việc biểu lộ cái tôi nghệ sĩ phóng khoáng, tự do, giàu tiềm lực văn hoá của mình và chọn một hình thức diễn tả có duyên, đầy màu sắc biểu cảm, chứa đựng nhiều liên tưởng, tưởng tượng độc đáo... Do có những đặc điểm vừa nói, Ai đã đặt tên cho dòng sông ? cũng có thể được xem là một thiên tuỳ bút đặc sắc (xem thêm phần nói về thể tuỳ bút ở bài Người lái đò Sông Đà).

II. tiếp cận văn bản
            Viết về bất cứ dòng sông nào trên trái đất, người ta cũng cần có, cần thể hiện được một tình yêu tha thiết, lắng sâu và một sự am tường không hề sách vở về những vấn đề địa lí, lịch sử và văn hoá gắn liền với chúng. Bởi các dòng sông luôn là cái nôi của những vùng, những nền văn hoá đa dạng, lắm sắc màu và là đối tượng mà các cư dân sống trong vòng tay của chúng phải vô hạn biết ơn. Viết về con sông Hương cũng cần và lại càng cần như vậy. Đây là một thách thức nhưng là thách thức đã được chuyển hoá thành niềm giục giã đầy tự nhiên, đầy xao xuyến trong tâm hồn những ai yêu sông Hương, yêu Huế. May thay, chúng ta đã có được những nhà thơ, nhà văn tài năng vượt qua được các thách thức nói trên  để tặng cho sông Hương những tác phẩm bất hủ[1]. Trong những nhà thơ, nhà văn đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đã viết nên một thiên tuyệt bút có nhan đề là Ai đã đặt tên cho dòng sông ?
            Vang lên từ nhan đề, trước hết, câu hỏi Ai đã đặt tên cho dòng sông ? có dáng dấp của một thoáng ngẩn ngơ rất thi sĩ (và theo chính tác giả cho biết thì đó là câu hỏi của một thi sĩ đích thực). Từ thoáng ngẩn ngơ này, bao nhiêu ấn tượng về cái đẹp của sông Hương sẽ ùa về trong tâm trí, khơi lên mạch viết dạt dào cảm xúc về "nhan sắc" thiên phú của dòng nước êm đềm chảy qua Huế cố đô. Vang lên những lần khác trong tác phẩm[2], câu hỏi biến thành một nỗi suy tư thâm trầm, đánh động bao vốn liếng văn hoá tích tụ trong người viết và cũng đòi nó phải được hiện diện trên trang giấy. Vậy đó, ta đang nói đến những mạch cảm hứng lớn đã dẫn dắt nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đến và đi với sông Hương, để rồi tiếp nữa, làm một cuộc viễn du vào lòng muôn độc giả, đóng vai người truyền cảm hứng cho họ bộc lộ tình yêu xứ sở hết sức thiết tha của mình.
            Thông thường, người ta hay sử dụng phép nhân hoá khi miêu tả thiên nhiên. Kể cũng là điều dễ hiểu, bởi trong văn học, các đối tượng không bao giờ xuất hiện như những "khách thể tự nó" mà như những "vật" thể hiện nỗ lực của con người nhằm chủ quan hoá toàn bộ thế giới khách quan. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã nhân hoá sông Hương. Nhưng nhân hoá ở đây không chỉ là nhân hoá trong từng đoạn miêu tả rời rạc với mục đích làm cho câu văn, hình ảnh trở nên sinh động. Ông đã thực sự xây dựng sông Hương thành một nhân vật, một con người, để được chuyện trò, đối thoại cùng nó. Điều này hoàn toàn hợp lẽ, bởi chẳng phải ta vẫn quen nghĩ rằng các dòng sông vừa là kẻ đồng sáng tạo, vừa là chứng nhân lịch sử, văn hoá của một vùng đất hay sao ? Dưới ngòi bút tài hoa và cái nhìn đầy mê đắm, trân trọng của tác giả, sông Hương cũng có một cuộc đời phong phú trải qua nhiều giai đoạn, khi gian truân, khi êm đềm. Giữa lòng Trường Sơn, nó chính là "một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại", có "bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng". Còn khi đã ra khỏi rừng, "sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở". Sông Hương có "phần tâm hồn sâu thẳm", có vẻ mặt lúc trầm mặc, lúc vui tươi, có thái độ đầy ân tình với Huế khi dành cho cố đô "điệu slow tình cảm" vô cùng giàu ý nghĩa... Tác giả đã thực sự trở thành một tri kỉ của sông Hương, hiểu ngọn ngành khí chất của nó, và hơn thế, còn chu đáo đề xuất với chúng ta một cách nhìn toàn diện về người bạn của mình : "Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương...". Ông dõi theo từng khúc quanh, nét lượn, bước ngoặt rất cụ thể của sông Hương để nói với độc giả về những "ý tứ" mà sông Hương muốn biểu lộ trước con người và miền đất Châu Hoá xưa : "Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén ; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế".  Theo tác giả, sông Hương đã thật "tâm lí" khi "trôi đi chậm, thực chậm" qua kinh thành Huế, như để yên ủi người ta đừng quá sầu muộn về sự biến đổi vô thường của cuộc đời, về sự vèo qua chóng mặt của thời gian. Dòng nước sông Hương đã lặng lờ một cách cố tình để muôn nghìn ánh hoa đăng trong đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về qua Huế "bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở". Bằng "cách trôi" rất riêng đó của mình, sông Hương như muốn nhắc người ta rằng cuộc đời này có rất nhiều cái đáng vương vấn. Rồi nữa, nếu không nhờ sự phát hiện đầy tính chất đồng điệu của tác giả đối với sông Hương, mấy ai biết rằng việc sông Hương đột ngột đổi dòng ngay khi vừa định chia tay Huế là thuận theo một lí do rất tình cảm, rất "người' : chẳng qua, nó muốn gặp lại Huế "để nói một lời thề trước khi về biển cả". ở đây, có đến ba thái độ chí tình cùng "hợp lưu" với nhau : cái chí tình của sông Hương đối với Huế, cái chí tình của con người Huế trong tình yêu (như là một phẩm chất được thấm nhiễm từ sông Hương) và cái chí tình của chính tác giả dành cho sông Hương, dành cho cả mảnh đất xưa gọi là Châu Hoá ! Suy cho cùng, nếu không có cái chí tình của tác giả thì cái chí tình của sông Hương không thể trở thành một "khách thể tinh thần" hiện diện trong đời sống chúng ta và gây ấn tượng sâu đậm đến vậy !
            Nếu biết cất lên tiếng người, hẳn sông Hương sẽ nói rằng nó đã thực sự yên tâm khi chọn trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường để hoá thân. Có lẽ chính nhà văn cũng nhận thấy, cũng hiểu niềm tin cậy đó, nên từng câu văn của ông bay bổng, diễm ảo lạ thường. Nhiều lúc, độc giả có cảm tưởng ngôn từ trong bài bút kí không phải là của tác giả dùng để mỉêu tả sông Hương mà chính là ngôn từ của sông Hương đang hát lên bài ca của mình. Ngôn từ ấy trôi chảy hết sức tự nhiên, nếu có "luyến láy" thì cũng "luyến láy" một cách tự nhiên, bởi chất hào hoa, đa tình vốn đã là cái gì thuộc về căn cốt của người viết rồi. Hãy thử đọc lại một vài đoạn : "Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng", "Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà", "Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam - đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non",... Theo một cái nhìn mang tính phân tích, có thể thấy trong các đoạn văn trên, tác giả đã vận dụng khá nhiều thủ thuật ngôn từ, từ việc phối hợp hài hoà thanh điệu của các tiếng tới việc lựa chọn những định ngữ đắt nhất cho các đối tượng được miêu tả, từ việc sử dụng các ẩn dụ, so sánh đích đáng tới việc "khảm" một cách khéo léo ý tứ của các văn bản xưa vào văn mạch mới. Tuy vậy, đọc chúng lên, ta không có cảm giác cộm, vướng, bởi tác giả đã hoàn toàn làm chủ những thủ thuật ngôn từ kia, bắt chúng vâng phục tuyệt đối sự điều hành của mình. Nói rộng ra, thiên bút kí đưa đến rất nhiều thông tin mà đọc lên vẫn thấy thanh thoát là nhờ thế.
            Nhất quán với cách nhìn sử thi vốn có, Hoàng Phủ Ngọc Tường không quên tô đậm niềm "quang vinh" mà sông Hương đã có được trong lịch sử dài lâu của dân tộc. Có lẽ để khỏi mang tiếng là "thiên vị", ông đã dẫn ra các "lời chứng" vừa từ sử sách vừa từ những con người đã thực sự can dự vào cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc. Nhưng đồng thời, nhà văn cũng thấm thía rằng mọi thứ trên đời đều có thể bị quên đi, chỉ văn hoá là còn lại mãi. Có chiến công nào lớn hơn chiến công của văn hoá ? Và mọi chiến công khác, nếu còn muốn được nhắc tới thì đều phải mang ý nghĩa văn hoá.  Ông viết : "Sông Hương là vậy, dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước". Không, nhà văn không đơn thuần "tính đếm" hay kể lại những phẩm chất đa dạng của sông Hương. Lồng trong lời đánh giá khái quát mang tính chất ghi công đó, ông muốn đặc biệt nhấn mạnh đến vẻ đẹp văn hoá sâu xa, trầm tĩnh của sông Hương. Không phải ngẫu nhiên ở rất nhiều đoạn trong bài bút kí này, ông đã thường xuyên nghĩ tới Truyện Kiều, nhân vật Kiều khi nói về sông Hương. Đối với người Việt Nam, Truyện Kiều là tập đại thành của nền văn học, văn hoá dân tộc. Được so sánh, được liên hệ với Truyện Kiều chính là một niềm vinh dự. Nhưng một điều thú vị đáng nói là là trong Truyện Kiều luôn có vang bóng của sông Hương, của văn hoá sông Hương. Tác giả đã chứng minh điều này một cách tinh tế và thuyết phục, bằng mẫn cảm nghệ sĩ, bằng những hiểu biết sâu sắc về cuộc đời Nguyễn Du. Ông đã có một so sánh rất lạ, rất độc đáo nhưng cũng vô cùng chính xác : "Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya". Sự thực, câu văn không đơn thuần chỉ có so sánh. Nó chứa đựng (hay là thể hiện) một cái nhìn đồng nhất hoá, nâng sông Hương lên thành đích thực một linh hồn. Tác giả cũng kể lại cho ta một phát hiện bất ngờ chỉ có được ở những con người sống vì nghệ thuật, sống trong nghệ thuật : "Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều : "Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời"... Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên : 'Đó chính là Tứ đại cảnh !". Bằng lịch lãm văn chương, nghệ thuật của mình, sau khi đi một vòng để nêu lên chân lí "dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ", rằng sông Hương đã hiện hình với đủ cung bậc trong thơ của Tản Đà và Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan và Tố Hữu, tác giả lại khẳng định trong niềm ngạc nhiên của sự khám phá : "sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều".
            Viết về một dòng sông văn hoá, quả rất cần một tư thế văn hoá. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thể hiện được điều này trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? Rất nhiều trải nghiệm của một đời viết luôn gắn bó với con người, dân tộc và đất nước đã được đưa vào đây. Yêu sông Hương nhưng tình yêu ấy không ngăn cản ta yêu những dòng sông khác có trên trái đất. Và ngược lại, niềm thích thú được quan sát dáng nét độc đáo của những dòng sông thuộc các vùng miền từng qua lại làm tươi mới trong ta nỗi rung động bồi hồi rất đặc biệt trước dòng sông quê hương đã nuôi lớn cuộc đời mình. Ai đã đặt tên cho dòng sông ? - Câu hỏi ấy không chỉ phản ánh một khoảnh khắc xao xuyến của tâm tư. Cao hơn, nó hé lộ cho ta thấy một tâm thế sống luôn có trách nhiệm với cuộc đời, luôn biết ngạc nhiên về cái bí ẩn, phong phú vô tận của tạo vật.

 



[1] Cũng cần biết thêm rằng sông Hương còn là đối tượng thể hiện đầy rung động của nhiều hoạ sĩ và nhạc sĩ xuất sắc.
[2] Câu hỏi Ai đã đặt tên cho dòng sông ? được nhắc tới tất thảy ba lần trong tác phẩm (không kể nhan đề). Hai lần nhắc sau nằm trong các đoạn bị lược bỏ khi tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa. Đây chỉ nêu tư liệu nhằm mục đích tham khảo.
(Phan Huy Dũng)

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

HIỆN TƯỢNG NÓI NGỌNG TIẾNG VIỆT

                                       TẠI SAO NGƯỜI TA NÓI NGỌNG TIẾNG VIỆT?
                                                                                               (ST)

Nhân chuẩn bị cho một cháu nhỏ trong gia đình thi vào trung học phổ thông, tôi có đi hỏi thăm vài người về chất lượng các trường trong phạm vi thủ đô. Tới trường X, một trường lâu năm và ở ngay trung tâm thì được kể: 

- Ồ cũng như mọi nơi, xập xệ lắm. Một cô giáo đang dạy lớp 11 ở đó còn nói ngọng. 

Nghe mà buồn! Nhưng cũng nhân đấy, có dịp hiểu thêm về tình trạng nói ngọng hiện nay. Là nó đã quá phổ biến. Trong khi vẫn coi việc nói đúng là một tiêu chuẩn để đánh giá một con người hay một đơn vị văn hóa, người ta cũng đã bắt đầu quen với sự bất lực. 

Nói ngọng đang bành trướng. Nó xâm nhập tới những nơi xưa nay không được phép bén mảng tới. Đã không ngăn chặn nổi nó thì thôi chung sống với nó vậy, người ta tự nhủ. Ví như bảo anh chị em bên truyền hình là không được đưa người nói ngọng xuất hiện trước màn hình thì có lẽ... nhiều chương trình sẽ bị cắt bỏ. 

Khi chê trách sự nói ngọng, nhiều người đã nói tới việc giảng dạy ở các nhà trường. Nhưng có lẽ cũng nên nghĩ tới những nguyên nhân sâu xa hơn. Đang có một sự dễ dãi chi phối thái độ con người hôm nay đối với ngôn ngữ và sự giao tiếp nói chung, đầu mối là ở đấy chăng. 

Bình là một đồng nghiệp trẻ mà tôi quen gần hai chục năm nay. Từ nông thôn lên, đẹp trai, thông minh, hội nhập rất nhanh với đời sống đô thị. Chỉ tội một nỗi không sao sửa được bệnh nói ngọng. Nhiều lần đang nghe Bình nói rất hay chợt nghe anh pha vào chỗ lầm lẫn, tôi cứ cảm thấy câu chuyện không còn ra làm sao. Chúng ta sẽ rủ nhau mà đi xuống mồ với cái sự ngọng vĩnh viễn như thế này chăng? 

Tại sao lại có hiện tượng như vậy? Tôi thử tìm về nguồn gốc xuất thân, tức là chất trai quê của anh bạn. Nhưng rồi tôi nghĩ lại. Bình lên Hà Nội theo con đường đàng hoàng là học đại học, vào làm cơ quan nhà nước, hàng ngày tiếp xúc với bộ phận tinh hoa của xã hội. Vậy không thể đổ cho nói ngọng là tại “trình độ thấp” được. 

Vả chăng nay là lúc không chỉ người các tỉnh lên Hà Nội nói ngọng mà chính ở nhiều lớp người thủ đô cũ cũng có hiện tượng “lại gạo”, mắc thêm nhiều lỗi ngọng mới, tức là đánh mất sự trong sáng chuẩn mực trong ngôn ngữ của mình. Mạnh mồm khái quát lên một chút, liệu có thể nói tới một căn bệnh thời đại? Tôi muốn đi theo hướng ấy. 

 

Từ thói quen nói ngọng người ta thường viết sai chính tả. "... Sông sâu chớ NỘI"!!! 

Lần lại trong trí nhớ và nhất là soát lại các trang sách đã đọc, thấy thời trước con người trầm tĩnh kỹ lưỡng bao nhiêu, thì ngày nay cả ở Nam lẫn Bắc, cả nông thôn lẫn đô thị, người ta sống xô bồ, dễ dãi bấy nhiêu. Sự chuẩn mực bị coi thường. Mà sự tinh tế thì nhiều khi bị mang ra chế giễu. 

Phải quê quê một chút, phải cục mịch một chút mới ra vẻ thức thời. Cái lối nghĩ ấy theo sát chúng tôi suốt từ những năm thủ đô giải phóng (1954) và kéo dài mấy chục năm ròng. Đến nay đã có căn bệnh mới, là bệnh khoe giàu, khoe giỏi, khoe trí thức (giả), song dấu vết của căn bệnh cũ vẫn còn dai dẳng. 

Nhìn vào một ngành có liên quan nhiều tới chữ nghĩa và tiếng nói là ngành văn chương mà tôi làm việc mấy chục năm nay. Bước sang thời buổi thị trường không ai ngồi trau chuốt một câu một chữ nữa. Viết bừa viết ẩu. Sai câu. Sai chính tả. Chỉ cùng một ý mà mấy lần lặp đi lặp lại... Bấy nhiêu căn bệnh không gì khác chính là những biến dạng của sự phi chuẩn trong văn hóa giao tiếp. Mang danh chuyên nghiệp đã thế, còn nói chi tới những người dân thường. 

Dạo này chúng ta hay nói tới sự phá hoại môi trường sống của cộng đồng. Ngôn ngữ cũng là một yếu tố thuộc về cái môi trường mà chúng ta đã chểnh mảng bừa bãi trong đối xử. Văn hóa giao tiếp của chúng ta đang xuống cấp. Công cụ giao tiếp vốn đã cổ lỗ lại đang mòn sờn hư hỏng. Nó kéo xã hội phát triển chậm lại và làm cho cuộc sống thêm bề mệt mỏi khó chịu. Tôi muốn đặt căn bệnh nói ngọng của chúng ta trong tình trạng suy thoái của văn hóa giao tiếp như vậy. Một lần tôi nghe Bình bảo: 

- Giá kể biết thế nào là ngọng thì em sẽ sửa được ngay. Đằng này, chẳng ai bảo em thế nào là đúng thế nào là sai cả, sai đúng sao cũng được. Lại có mấy ông ngôn ngữ học “nửa mùa” bảo ngọng là phương ngữ, từ đó làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ cộng đồng. Thế thì còn biết đằng nào mà lần! 

Tôi cảm nghe trong câu than phiền của người bạn trẻ một lời oán trách thầm lặng. Xã hội đã không tạo ra cơ chế tốt để giúp các công dân của mình duy trì các chuẩn mực trong giao tiếp, cũng tức là giúp mọi nói năng viết lách ngày một hay hơn chính xác hơn, còn người có sai lầm cũng sớm biết cách mà từ bỏ cái sai. 

Tôi nhớ tới một cách giải quyết ở nước ngoài. Từ 1635, nước Pháp đã lập ra một viện hàn lâm với nhiều ông hàn chuyên lo soạn từ điển và cầm cân nẩy mực về mặt ngôn ngữ. Bao giờ thì chúng ta mới có những viện hàn lâm với đúng nghĩa đích thực như vậy? Hay là, trong sự biến động hỗn loạn của tiếng Việt, rồi những ai có ý định làm ông hàn cũng chắp tay lạy để xin chuyển ngay sang ngành khác. 

Nguồn: Saigon Times Online

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

NHỮNG TỪ DÙNG SAI TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM

NHỮNG TỪ DÙNG SAI TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM 


------------(trích TrieuThanh Magazine)-------------- 



1.- Sai vì không hiểu nghĩa gốc Hán Việt. 

*CHUNG CƯ. Từ kép nầy được thành lập theo văn phạm Hán Việt vì tính từ đứng trước danh từ cho nên cả 2 từ phải đều là Hán Việt. Thế mà từ chung Hán Việt không có nghĩa là chung chạ mà có nghĩa là cuối cùng. Vậy chung cư
終居 không phải là nơi nhiều người ở chung mà là nơi ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Vậy phải đổi từ chung cư thành chúng cư 衆居 thì mới ổn. 

*KHẢ NĂNG. “Khả năng”
là năng lực của con người, có thể làm được việc gì đó. Thế mà người ta đã viết và nói những câu đại loại thế nầy: Hôm nay, khả năng trời không mưa. Khả năng con bò nầy sẽ chết vì bị bệnh… Nghe thực là kỳ cục và đáng xấu hổ. Tôi cho rằng, người ta đã nhầm lẫn giữa hai từ khả năng (capacité, capable) với khả dĩ (possibilité, possible). Nhưng thôi, chúng ta nên dùng từ thuần Việt là có thể, đúng và dễ hiểu, còn từ khả năng chỉ nên dùng để nói về năng lực mà con người mà thôi. 

*QUÁ TRÌNH. Quá
là đã qua, trình là đoạn đường. Quá trình là đoạn đường đã đi qua. Nói thế nầy là đúng: “Quá trình thực hiện công việc đã gặp nhiều trở ngại. Nhưng tôi lại thấy trong sách báo câu đại loại thế nầy: “Quá trình thực hiện công tác sắp tới của tôi là sẽ rất thuận lợi”.Thực là sai lắm rồi. Trong trường hợp nầy, phải dùng chữ tiến trình, đúng cho cả 3 thì quá khứ, hiện tại và tương lai. 

*HUYỀN THOẠI. Người viết, kể cả những người có bằng cấp cao, không chịu học tiếng Hán, mà lại thích dùng tiếng Hán để tỏ ra “ta đây” nên nhiều tiếng được dùng sai nghĩa một cách thực buồn cười. Thí dụ, tôi rất thường nghe đài truyền hình, truyền thanh và báo chí nói “huyền thoại Pélé” “huyền thoại Maradona”.. Người có học nghe thực chướng tai, nhưng người nói chẳng ngượng miệng chút nào. Tại sao nghe chướng tai? Huyền
là màu đen, nghĩa bóng là sâu xa, mờ ảo, không có thực. Thoại là câu chuyện. Vậy huyền thoại là câu chuyện mờ mờ ảo ảo, không có thực, do truyền miệng mà ra. Thí dụ chuyện bà Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, chuyện ông Thánh Gióng cỡi ngựa sắt đi đánh giặc Ân là những huyền thoại. Đằng nầy, ông Maradona, ông Pélé có thiệt 100% sao gọi là huyền. Và 2 cầu thủ đó là con người sao gọi là thoại được. Nếu muốn dùng chũ huyền thoại để đề cao 2 cầu thủ đó thì phải nói thế nầy: “Cái tài của 2 ông nầy tưởng như chỉ có trong huyền thoại”. Ông bà mình thường nói: “Dốt thì hay nói chữ, có đúng trong trường hợp nầy hay không?” 

*HÔN PHU, HÔN THÊ. Hôn là cưới, phu là chồng, thê là vợ. Trong chữ phu và chữ thê đã có nghĩa của chữ hôn rồi cho nên gọi hôn phu và hôn thê là để chỉ người chồng người vợ là phi lý. Gọi hôn lễ(lễ cưới) hôn phối (lấy nhau) thì được. Còn nói hôn phu, hôn thê thì có thể hiểu
昬夫,昬妻 là nguời chồng u mê, người vợ u mê cũng như nói hôn quân 昬君 là nhà vua u mê vậy. 

2.- Sai vì cố ý sửa nghĩa gốc Hán Việt 

*ĐỘC LẬP Độc
là riêng một mình, Lập là đứng. Vậy theo nghĩa gốc Hán Việt, độc lập là đứng riêng rẻ một mình, không đứng chung với ai cả. Rõ ràng từ nầy là sai nếu dùng để diễn tả tình trạng của một quốc gia không lệ thuộc nước khác. Ngày nay, các quốc gia như thế đâu có đứng riêng một mình mà đều có liên hệ với nhau trong các tổ chức quốc tế. Vậy từ độc lập là sai. Tôi thấy Cụ Trần Trọng Kim, Cụ Dương Quảng Hàm dùng từ tự chủ để thay thế từ độc lập. Như thế là rất hay. Có người bảo với tôi rằng từ độc lập là do ông Tôn Dật Tiên đặt ra nên không thể bỏ được. Tại sao vậy? Ông Tôn Dật Tiên thì liên quan đến ngôn của Tàu chứ có liên quan gì đến ngôn ngữ Việt Nam. Tàu dùng sai thì chúng ta đâu có buộc phải theo cái sai của họ. 

*PHONG KIẾN.
封建 Phong kiến gồm 2 chữ phong tước 封爵 (ban quan tước) và kiến địa 建地 (ban đất để dựng nước). Phong kiến chỉ chế độ hoàng đế phong tước cho người có công và cấp cho một vùng đất rất rộng để thành lập quốc gia, với quân đội, luật lệ và chế độ thuế má riêng biệt. Chế độ nầy hiện hữu ở đời nhà Chu bên Tàu với nước của thiên tử và nước của các chư hầu; từ nhà Tần trở đi thì chế độ phong kiến bị bị bãi bỏ và được thay bằng chế độ trung ương tập quyền. Chế độ phong kiến cũng tồn tại ở vài nước Âu châu như Pháp, chỉ vào thời Trung cổ mà thôi. Ở Việt Nam không bao giờ có chế độ phong kiến (féodalité) mà chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế (royalisme absolu) mà thôi. Gọichế độ quân chủ ở Việt Nam bằng từ phong kiến là sai. Có tài liệu còn bảo rằng sự cúng tế đình chùa là tàn tích của phong kiến thì càng sai hơn nữa. 

*TIÊU CỰC, TÍCH CỰC
消極, 積極 Hiện nay, người ta gán vào hai từ nầy ý nghĩa tốt xấu hết sức rõ rệt. Hành động nào tốt thì được gọi là tích cực; trái lại, hành động xấu thì gọi là tiêu cực. Thực ra, suy từ nghĩa gốc Hán Việt thì sự gán ép như thế là sai. Tich cực, tiêu cực tự nó không có sẵn tính chất tốt hay xấu mà chỉ ấn định cường độ của hành động mà thôi. Thí dụ, trong một đoàn đi làm việc phước thiện thì ai tích cực là tốt và ai tiêu cực là không tốt. Nhưng trong một bọn côn đồ đi tổ chức ăn cướp thì đứa nào tích cực lại là đứa xấu nhất. Trong truyện Tam quốc của Tàu, Từ Thứ, mưu sĩ của Lưu Bị bắt buộc phải về phục vụ dưới trướng của kẻ thù là Tào Tháo. Từ Thứ đã giữ thái độ tiêu cực nghĩa là không hiến mưu kế gì cho Tào Tháo. Thái độ tiêu cực nầy của Từ Thứ, từ cổ chí kim luôn luôn được khen ngợi; vậy tiêu cực có xấu đâu. 

3.- Sai vì không phân biệt được tiếng Hán Việt với tiếng thuần Việt (tiếng Nôm). 

*QUỐC GIỖ. Tôi có đọc được câu nầy: “Ngày giỗ tổ Hùng vương là ngày quốc giỗ”. Nói như vậy là sai. Giỗ là tiếng Nôm chứ không phải là tiếng Hán Việt nên không thể đặt sau tiếng quốc được. Hãy bỏ tiếng ngày quốc giỗ mà dùng tiếng thuần Việt là ngày giỗ cả nước, vừa đúng, lại vừa dễ hiểu, Nơi tiếng Hán, ngày giỗ là kỵ nhật
忌日.Ở một vài tỉnh của Trung Việt, người ta gọi ngày giỗ là ngày kỵ. Ta nên dứt khoát chỉ dùng từ Nôm là ngày giỗ để cho thống nhất toàn quốc.

*GÓA PHỤ. Tôi đã gặp vài lần chữ góa phụ trong sách vở báo chí để chỉ người đàn bà có chồng đã chết. Gọi như thế là sai vì tính từ góa là tiếng Nôm, không thể đặt trước danh từ phụ được. Phải gọi người đàn bà góa (toàn Nôm) hay người quả phụ (toàn Hán Việt) thì mới đúng. 

*ĐỆ NHẬT THÁC. Ở ngõ đi vào của một địa điểm du lịch, có hàng chữ to tướng dùng để quảng cáo “Nơi đây có đệ nhất thác”. Viết như thế là sai. Đặt 2 chữ đệ nhất (tiếng thêm nghĩa) trước chữ thác (tiếng chính), là theo văn phạm Hán Việt thì cả hai chữ đều phải là tiếng Hán Việt mới được. Ở đây, tiếng thác là thuần Nôm, thế là bậy rồi. Không có tiếng Hán Việt nào có nghĩa thác nước. Thác theo tiếng Hán là bộc bố
, nhưng đó lại là tiếng Hán thuần túy nghĩa là chưa được Việt hóa thành tiếng Hán Việt nên chưa thể dùng được. Trong trường hợp nầy, nên viết “Nơi đây có thác đẹp nhất”, vừa đúng, vừa dễ hiểu lại vừa hấp dẫn khách du lịch. 

4.- Sai vì không phân biệt được văn phạm Hán Việt với văn phạm Nôm. 

*X QUANG. Mỗi lần có chuyện phải vào bệnh viện là tôi rất khó chịu khi nhìn thấy cái bảng “Phòng X quang” Tôi khó chịu vì cái chữ X quang nầy phạm đến 2 lỗi. Một là lỗi về ngữ pháp và một lỗi vể kiến thức khoa học. Về ngữ pháp, quang là tiếng chính, X là tiếng bổ nghĩa. Đặt tiếng bổ nghĩa trước tiếng chính thì đích thị sử dụng văn phạm Hán Việt rồi. Mà muốn dùng lối văn phạm nầy thì cả 2 chữ đều phải là tiếng Hán Việt. Ở đây X là một mẫu tự latin thì sai quá đi rồi. Về khoa học, quang
có nghĩa là sáng, ở đây chỉ tia sáng. Tia sáng là tia kích thích được tế bào thị giác để tạo ra ấn tượng sáng. Trong chuỗi sóng điện từ, các tia nầy chỉ chiếm một khoảng rất nhỏ bé với độ dài sóng từ 400 nano mét đến gần 800 nano mét mà thôi. Trong khi đó, tia X (với độ dài sóng từ 0,1 đến 10 nano mét) cách tia sáng khá xa, không kích thích được tế bào thị giác thì chắc chắn không phải là tia sáng rồi. Cho nên dùng chữ QUANG cho tia X là sai be bét về vật lý sơ đẳng của lớp 12 trung học. Tôi chẳng hiểu ông “đại giáo sư tiến sĩ” nào đã bày ra cái tên X QUANG đó. Tại sao không dùng chữ “TIA X” như trước đây ở miền Nam, vừa hay, vừa đúng, vừa đại chúng, vừa thuần túy Việt Nam. Không lẽ người ta muốn dùng chữ “X QUANG” để chứng tỏ ta đây biết “nói chữ” hay sao? 

*BÊ TÔNG HÓA con đường. Bê tông là từ phụ, hóa là từ chính. Đây cũng là văn phạm Hán Việt. Để thành lập từ kép thì cả 2 từ đơn đều phải tiếng Hán Việt. Ở đây bê tông lại là tiếng Pháp (béton) phiên âm ra, do đó nói bê tông hóa là sai. Ngoài ra, nghĩa cũng sai vì từ bê tông hóa được dùng phải được hiểu là con đường đà được biến hóa thành một khối bê tông. Vì vậy, không nên nói bê tông hóa mà nói một cách bình thường: tráng bê tông con đường, vừa đúng lại vừa dễ hiểu. 

Còn một lô HÓA rất bậy bạ trong sách vở báo chi, trong chương trình truyền thanh, truyền hình như : nghèo hóa, giàu hóa, no hóa, đói hóa, khôn hóa, dại hóa, vân vân. Tội nghiệp cho ngôn ngữ Việt Nam! 

*NỮ NHÀ BÁO Tôi còn nhớ, trong chiến tranh I rắc, sau khi lính Mỹ bắn nhầm nhân viên tình báo của Ý bảo vệ người nữ phóng viên vừa được bọn bắt cóc trả tự do, các đài truyền hình ở Việt Nam loan tin nhiều lần và nhắc đi nhắc lại nhóm từ nữ nhà báo. Thực là quá tệ! Nhà báo là tiếng Nôm nên phải dùng văn phạm xuôi và phải nói “nhà báo nữ”Còn muốn dùng văn phạm ngược thì phải dùng 3 từ Hán Việt: “nữ phóng viên” hay “nữ ký giả”. Ban biên tập các đài truyền hình không biết điều nầy sao? 

*TRIỀU CƯỜNG. Từ lâu rồi, tôi thấy xuất hiện rất thường xuyên hai từ triều cường khi người ta nói đến thủy triều trên song.. Hai chữ nầy có thể thay đổi vị trí trước sau và có hai ý nghĩa khác nhau. Cường triều
gồm tính từ đứng trước danh từ thì tương đương với một danh từ và có nghĩa là con nước lớn (haute marée). Triều cường thì lại là một mệnh đề gồm một danh từ triều và một động từ cương và có nghĩa là con nước đang lớn lên (la marée monte). Lúc nào cũng dùng chữ triều cường thì có thể sai hơn phân nửa trường hợp rồi. Nhưng tại sao không nóicon nước lớn (danh từ) và con nước đang lên (mệnh đề) vừa đúng lại vừa phù hợp với trình độ và thói quen của đại chúng. 

*HẠT NHÂN. Đây là từ vật lý học chỉ các hiện tượng xảy ra bên trong cái lõi hay cái nhân của nguyên tử. Miền Nam trước đây gọi là hạch tâm. Hạch
là cái hạt, tâm là cái lõi hay cái nhân bên trong . Hạch tâm là cái nhân của hạt. Đó là từ ghép theo văn phạm Hán Việt vì cả 2 từ đều là Hán Việt. Bây giờ người ta chuyển sang dùng 2 từ Nôm thì phải theo văn phạm nôm và phải gọi là “nhân của hạt” hay nhân hạt, cũng như bên ngoài gọi “vỏ hạt” chứ không thể gọi là “hạt vỏ” được. Gọi phản ứng hạt nhân, là sai với văn phạm rồi. Cần phải sửa lại: phản ứng nhân hạtmới đúng. Tuy nhiên, theo tôi, nên giữ từ phản ứng hạch tâm thì hay hơn nhiều. Từ nầy không phải là từ của giới bình dân nên cứ giữ tiếng Hán Việt, không cần chuyển sang tiếng Nôm. 

*TẶC. Từ Hán Việt nầy đang được dùng một cách rất bậy bạ và rất thường xuyên như bọn tôm tặc, vàng tặc, cà phê tặc, để chỉ những tên ăn trộm. Dùng như thế là phạm vào 2 điều sai. Thứ nhất là sai về ngữ pháp: một từ đơn thuần Việt không thể ghép với một từ đơn Hán Việt để thành một từ kép. Thứ hai là sai về nghĩa. Tặc
có nghĩa là ăn cướp, đạo mới có nghĩa là ăn trộm, thí dụ đạo văn 盜文 là ăn trộm văn của người khác. Tại sao người ta không nói một cách giản dị và đúng là: bọn trộm tôm, trộm vàng, trộm cà phê. . . Cũng cần nói thêm về một từ đang được nhiều báo đem dùng. Đó là từ đinh tặc để chỉ bọn rải đinh trên đường phố. Đinh là một từ có gốc Hán Việt nhưng đã được Việt hóa hoàn toàn rồi nên ghép với từ tặc thì không ổn. Vả lại, nói đinh tặc là sai nghĩa vì từ đó có nghĩa là bọn ăn cướp đinh; thôi bỏ từ đó đi và nên nói một cách giản dị là “bọn rải đinh” thì hơn. 

Còn vô số những từ sai khác cùng nguyên nhân trên đây như: 

Lớp trưởng, phải sửa lại trưởng lớp, 
Nhóm trưởng, phải sửa la trưởng nhóm 
Siêu rẻ, phải sửa lại rất rẻ 
Siêu bền, phải sửa lại rất bền 
Vi sóng, phải sửa lại vi ba hay sóng ngắn 
Vân vân... 

5.- Dùng từ vô nghĩa 

*Bệnh viện DA LIỄU. Lần đầu tiên, thấy bảng chữ nầy, thú thật tôi không hiểu là cái gì. Sau hỏi người bạn bác sĩ mới biết đó là “nhà thương chữa bịnh ngoài da và bệnh hoa liễu”. Trời đất! Da là từ thuần Việt. Hoa liễu là từ Hán Việt, sao lại nhập chung một cách kỳ cục như thế. Xét về nguồn gốc, chữ Hán Hoa liễu
花柳 có nghĩa là ổ điếm chứ không phải là một bịnh. Về sau, người ta dùng nhóm từ kép “bịnh hoa liễu” để chỉ cái bịnh lây qua đường tình dục cho những người hay lui tới các hoa liễu. Dùng riêng chữ hoa liễu cho một bịnh đã là sai rồi. Bỏ luôn chữ hoa, chỉ còn chữ liễu thôi thì càng tệ hơn nữa. Riêng chữ liễu thì có nghĩa là cây liễu. Bệnh viện da liễu tức là bệnh viện chuyên chữa cho bịnh ở da của cây liễu !!! 

*ĐẠI TRÀ. Tôi nhớ sau năm 1975, một người bạn dạy sử địa kể rằng, lần đầu tiên đọc sách giáo khoa từ miền Bắc đưa vào gặp câu: “Cây chè được trồng đại trà ở vùng nầy”. Anh ta hơi hoảng vì dạy sử địa bao năm mà bây giờ không hiểu đại trà là gì. Đại là lớn, còn trà là gì? Anh về lật nhiều tự điển kể cả tự điển Hán Việt ra tra thì chẳng thấy chữ đại trà ở đâu cả. Hỏi thăm mãi anh mới rõ trồng đại trà là trồng rộng rãi khắp nơi. Có lẽ ai đó nổi hứng bịa ra từ vô nghĩa đó để thay thế từ dễ hiểu và có sẵn, rồi sau đó những người khác bắt chước nói theo. Ngôn ngữ mà biến chuyển như thế thì cũng đáng buồn. 

*SỰ CỐ. Lại một từ vô nghĩa nữa nhưng đang được dùng một cách rộng rãi để chỉ một sự rắc rối vừa mới xảy ra. Trong tiếng tiếng Hán Việt có từ kép cố sự
故事 có nghĩa là chuyện cũ chứ làm gì có từ sự cố. Cái nghĩa mà hiện nay người ta gán cho từ vô nghĩa đó thực là lạ lùng, không thể chấp nhận được. 

* HOÀN CẢNH. Trong một bài báo, người ta viết: “Cô ây sống hoàn cảnh lắm”. Đố các bạn biết người ta muốn nói gì? Xin thưa, muốn nói “Cô ấy đang sống trong hoàn cảnh bi thảm”!!! Các bạn có chịu nổi với cách viết văn như thế đó không ? 

*ĐÔI CÔNG. Kể từ giải túc cầu thế giới tại Nam Phi, đài truyền hình ở Việt Nam bịa ra một từ mới, đó là từ đôi công và rất thường được lặp đi lặp lại. Theo dõi nhiều trận, tôi mới hiểu ý của các ông trời đó muốn nói: 2 đội chơi đôi công nghĩa là cả 2 đội đều chơi tấn công. Đôi là một cặp (tiếng Nôm), công là tấn công (tiếng Hán Việt). Vậy đôi công là một từ bậy bạ do người kém hiểu biết bịa ra mà hiệu quả rõ ràng là làm xấu đi ngôn ngữ của dân tộc mình. Có người nghĩ rằng, cứ bịa ra những từ mới là làm giàu cho ngôn ngữ. Quan niệm như thế là sai; cũng như muốn làm giàu thì kiếm được thực sự nhiều tiền chức không phải cứ nhét vào tủ các thứ giấy tờ bậy bạ mà gọi làm giàu được. 

*XÂY DỰNG. “Anh Hai tôi quyết định xây dựng với người yêu của mình” Các bạn đừng tưởng rằng 2 người quyết định đi xây nhà để ở nhé. Không, 2 người quyết định làm đám cưới dó. Viết văn như thế thì hết chỗ để phê bình rồi. 

6.- Dùng sai nghĩa từ thuần Việt. 

*NGƯỠNG. Người ít học cũng biết ngưỡng là một giới hạn rất xác định, một gạch ngang rõ nét, và bước qua vạch ngang đó thì mọi việc sẽ thay đổi một cách căn bản. Thí dụ, ngưỡng cửa là một đường ngang, bên trong là phòng, bên ngoài là sân hay mái hiên chứ không còn là phòng nữa. Một thí dụ khác: khi lượng glucose trong máu tăng lên và vượt qua ngưỡng 1% thì đường thoát ra ngoài theo nước tiểu, còn dưới cái ngưỡng đó thì không hề gì. Ngưỡng có nghĩa rõ ràng như thế và học sinh nào cũng biết. Thế mà mổi đêm, trong mục dự báo thời tiết, xướng ngôn viên cứ lải nhải; nhiệt độ đạt ngưỡng từ 32 đô đến 35 độ. Nghe chịu hết nổi. Tôi không trách người xướng ngôn vì bản tin không phải do người xướng ngôn viết mà do các đấng đại trí thức trong ban biên tập viết nên. 

*KIÊU NGẠO. Có người nhờ tôi giải thích một câu nói trong sách báo nào đó :”Thằng A hay kiêu ngạo người khác.” Tôi không giải thích được vì không rõ câu nầy có nghĩa: “thằng A thường tỏ ra kiêu căng với người khác”, hay là “thằng A thường chế nhạo người khác”. Chắc chắn cả 2 cách giải thích đều không ổn vì dùng từ kiêu ngạo như thế là sai rồi thì không thể có cách nào giải thích câu nói cho đúng được. 

*TRAO ĐỔI. Từ nầy có nghĩa là đưa qua đưa lại các vật với nhau. Ngày nay người ta lại dùng từ nầy một cách sai lầm để thay thế cho từ bàn bạc hay thảo luận. Thí dụ: “Để thực hiện chỉ thị, tôi đã trao đổi với đồng chí chử tịch” 

7.- Dùng từ thiếu chính xác 

*CHẤT LƯỢNG. Chất
là cái khối chứa bên trong một vật (matière,) lượng là tính chất của cái gì có thể cân đo đếm được (quantité). Vậy chất lượng hay khối lượng là cái chất bên trong của một vật có thể đo lường được ( masse). Thí dụ: “khối lượng hay chất lượng của một vất là 1 kilo gramme”. Thế mà ngày nay người ta dung từ chất lượng để chỉ cái tính tốt xấu của một vật, không thể đo đếm được (qualité). Thí dụ: “Chất lượng của nước giải khát nầy kém lắm, uống không ngon má cò có hại cho sức khỏe nữa”. 

*CẢM GIÁC.
感覺 Đó là sự nhận biết của cơ thẻ do ngoại giới tác động vào các giác quan của cơ thể. Thí dụ: “Gió về khuya gây cảm giác lạnh. Tiếng đàn gây cảm giác êm đềm”. Ngày nay, người ta thường dùng từ cảm giác thay cho từcảm nghĩ. Thí dụ: ‘Với tình hình nầy, anh có cảm giác thế nào?”. Thực là sai một cách trầm trọng. 

*THỐNG NHẤT. Thống nhất
統一 là làm biến mất tình trạng chia rẻ bắng cách gom các thứ về một mối. Ngày nay người ta lại thường dùng từ thống nhất để diễn tả sự đồng ý, cùng chung quan điểm. Thí dụ, người ta đã nói: “Để thực hiện tốt chỉ thị, tôi cần thống nhất đồng chí chủ tịch”. Nói như vậy là sai. 

*GIẢI PHÓNG . Giải phóng
解放 là một từ thường dùng trong lĩnh vực chính trị để chi công cuộc cởi bỏ áp bức, trói buộc cho con người. Ngày nay, người ta lại dùng một cách sai lầm từ nầy cho vật chất. Thí dụ: người ta nói giải phóng mặt bằng thay cho từ đúng là giải tỏa mặt bằng. 

*ĐĂNG KÝ. Đăng ký
登記 là chép vào sổ một vật được đưa đến. Thế mà ngày, người ta nói: “Tôi đã đăng ký đi nước ngoài” Nghe như người ta sẽ gói tôi lại rồi đem gởi ra nước ngoài. Với con người, không thể nói đăng ký mà phải nói:ghi danh hay ghi tên mới đúng. 

8.- Từ vựng lộn xộn. 

*LÁI XE. Đó rõ ràng là một động từ, hay đúng hơn là một từ kép gồm một động từ và một túc từ. Tuy nhiên, ngày nay người ta cũng dùng từ nầy để chỉ người lái xe, tức là danh từ. Vì vậy, người ta có thể nói: “Sáng nay, lái xe đang lái xe gặp một lái xe khác cũng lái xe, cả hai lái xe cùng lái xe về nhà.” Thực là buồn cười. Trước đây ở miền Nam, lái xe dứt khoát chỉ là động từ, còn danh từ phải là người lái xe hay muốn nói gọn hơn thì dùng từ phiên âm Quảng Đông (?), tài xế cũng được rõ ràng minh bạch. 

*YÊU CẦU. Đây là một động từ. Thí dụ: “Tôi yêu câu anh đi ngay”. Sau 75, tôi gặp ngay trong giáo án (tài liệu chính thức để dạy học) 2 chữ: mục đích và yêu cầu. Động từ yêu cầu đã biến hẳn thành danh từ. 

*NGHIÊN CỨU SINH. Sinh
là tiếng Hán Việt. Dùng làm động từ thì sinh có nghĩa là sống, còn dùng làm danh từ thì sinh có nghĩa là con người đang sống. Thí dụ học sinh là người đi học, giáo sinh là người đi dạy. Nguyên cứu sinh là người đi nghiên cứu. Rõ ràng như vậy, thế mà tôi đã nghe người ta nói và đã thấy người ta viết những câu như “Con tôi được đi nghiên cứu sinh tại Trung quốc” Như thế là nói bậy vì lấy một danh từ làm động từ! 

*ẤN TƯỢNG. Theo cụ Đào Duy Anh, ấn tượng
印象(impression) là cái hình tượng do ngũ quan cảm xúc mà còn in sâu vào óc. Vậy ấn tượng là một danh từ của tâm lý học. Thế mà ngày nay người ta đem dùng làm tính từ như “cảnh đó rất ấn tượng”, và cả động từ nữa, như “tôi rất ấn tượng cảnh đó”. Hết sức bậy bạ 

*THẦN TƯỢNG.
神像 Từ nầy có nghĩa là hình tượng cao quý như thần. Vậy đây là danh từ nhưng, cũng như chữ trên đây, thần tượng được dùng như tính từ như “người đó rất thần tượng”, rồi cả động từ nữa “anh có thần tượng đồng chí đó không?” 

*TRÊN. Rõ ràng đây là một giới từ, bây giờ lại trở thành danh từ. Thí dự: “Cần phải báo cáo cho trên rõ” hay “trên bảo, dưới không nghe”. 

*LÀM TỐT. Tốt là một tính từ bổ túc nghĩa cho danh từ, như hạnh kiểm tốt, sức khỏe tốt. Ngày nay tốt được dùng làm trạng từ bổ túc nghĩa cho động từ, như làm tốt, học tốt, thay vi nói làm giỏi, học giỏi. 

*LÃNH ĐẠO. Tôi không tìm thấy chữ nầy trong các tự điển Hán Việt nhưng lại có trong tự điển của Tàu hiện nay
领导 và có nghĩa là điều khiển, hướng dẫn con đường đi. Vậy rõ ràng đây là một động từ. Tuy nhiên ngày nay người ta lại dùng làm danh từ. Thí dụ: “Lãnh đạo đã chỉ thị như thế” 

Sự rối loạn về từ vựng trong ngôn ngữ thực là điều rất đáng tiếc. Từ đầu thế kỷ 20, do ảnh hưởng của tiếng Pháp, ngôn ngữ Việt Nam dần dần được minh bạch về từ vựng nên trở nên sáng sủa và rõ nghĩa, nay có biểu hiện rối rắm về từ vựng và trở nên tối tăm, có lẽ do mấy ông đi học bên Tàu về. Tiếng Tàu thì rất lôi thôi về từ vựng, ai cũng rõ điều đó. 

9.- Cóp tiếng Tàu đang dùng. 

*LƯU BAN. Học sinh kém quá không được lên lớp thì gọi là lưu ban. Trong tiếng Tàu hiện nay, ban
là lớp học nhưng với tiếng Hán Việt (gốc từ tiếng Tàu đời Đường) thì ban không phải là lớp học mà có nghĩa rất xa lạ (ban phát, hạng thứ, đem quân trở về). Do đó, dùng tiếng lưu ban để nói học sinh không được lên lớp thì không ổn chút nào. Dùng chữ lưu cấp 留級 thì gần đúng nghĩa hơn. Nhưng thôi, lưu ban, lưu cấp làm chi. Mình đã có chữ thuần Việt đã dùng từ lâu là ở lại lớp, rất hay vì phụ huynh học sinh nào cũng hiểu được. 

*TRANH THỦ. Đây là từ mới được đưa vào Nam sau 1975, và có nghĩa là lợi dụng tình hình để làm được việc gì đó. Thí dụ: “trong chuyến đi tham vừa qua, anh ấy đã tranh thủ kiếm chác được chút ít” Tôi đã cố tìm hiểu xuất xứ của từ nầy và nhận ra rằng từ tranh thủ không có trong tiếng Hán Việt nhưng hiện nay đang được dùng bên Tàu. 

Việc đem tiếng Tàu hiện nay, phiên âm Hán Việt rồi nhập vào ngôn ngữ Việt Nam là đều điều không hợp lý vì nó sẽ làm rối rắm ngôn ngữ của mình. Nên nhớ tiếng Hán Việt có nguồn gốc tiếng Hán ở đời Đường chứ không phải là tiếng Tàu ngày nay, đã khác khá nhiều với tiếng Tàu đời Đường, về phát âm cũng như về ý nghĩa. Thí dụ,
大家 , tiếng Hán Việt đọc đại gia và có nghĩa là người hay gia đình có vai vế trong xã hội, trong khi đó tiếng Tàu hiện đại đọc là dà jià và có nghĩa là tất cả mọi người. Một thí dụ khác: 東西 tiếng Hán Việt đọc là đông tây và có nghĩa là 2 phương hướng, trong khi tiếng Tàu hiện đại đọc là dòng xì và có nghĩa là hàng hóa. Cho nên tiếng Tàu ngày nay phải được xem là ngoại ngữ đối với ngôn ngữ Việt Nam và không nên nhập một cách bừa bãi vào tiếng Việt. 

10.- Đảo ngược từ kép làm sai nghĩa. 

*ĐIỂM YẾU Từ kép nầy gồm 2 tiếng đơn ghép theo văn phạm Nôm có nghĩa là cái điểm không mạnh. Có người đem đảo ngược lại thành yếu điểm theo văn phạm Hán Việt thì lại có nghĩa hoàn toàn khác hẳn: điểm rất quan trọng. 

*THẤP ĐIỂM. Từ nầy thường được dùng sai một cách thực buồn cười. Cao là tiếng Hán đã được Việt hóa, nên có thể dùng theo văn phạm Hán hay Nôm cũng đều có một nghĩa duy nhất là “ở phía bên trên”. Thí dụ: điểm cao và cao điểm cùng một nghĩa. Trong khi đó thấp lại có hai nghĩa khác nhau tùy theo tiếng Hán hay Nôm. 

Theo tiếng Nôm thì thấp có nghĩa là ở bên dưới, nhưng với tiếng Hán thi thấp có nghĩa là ẩm ướt.. Vì vậy, khi nói điểm thấp thì đó là chỗ ở dưới thấp, nhưng khi đảo lại thành thấp điểm thì có nghĩa là nơi ẩm ướt. Thực là buồn cười khi đọc báo thấy: “giao thông giờ cao điểm, giao thông giờ thấp điểm” hay “dùng điện lúc cao điểm và dùng điện lúc thấp điểm” 

11.- Đảo từ kép bừa bãi và không cần thiết. 

*XA XÓT. Tôi đọc được cách đảo kỳ cục trong một tác phẩm bán rất chạy trong thời gian gần đây. Nguyên câu đã viết là: “…ông Năm xa xót nhìn hai đứa trẻ….”. Đảo từ như thế là bừa bãi, chẳng nhằm lợi ích gì. Với văn vần thì có thể tạm chấp nhận sự đảo từ cho hợp thi luật; nhưng với văn xuôi thì không thể đảo từ một cách bừa bãi được. 

Còn rất nhiều từ kép bị đảo xuôi đảo ngược vô tội vạ nữa: Nguy hiểm / hiểm nguy; đơn giản / giản đơn; khai triển / triển khai; từ chối / chối từ; bảo đảm / đảm bảo; bền vững / vững bền; minh chứng / chứng minh; phục hồi / hồi phục; biệt ly / ly biệt; tha thướt / thướt tha; thẩn thờ / thờ thẩn; tranh đấu / đấu tranh; thơ ngây / ngây thơ; xúc cảm / cảm xúc; quang vinh / vinh quang; kinh hoảng / hoảng kinh; ái ân / ân ái ….. 

Ôi thôi, nhiều quá, quá nhiều, không sao kể hết ngay tức thì được. 

Có lẽ trên thế giới, không ngôn ngữ nào có các từ bị đảo ngược lung tung như ngôn ngữ Việt Nam hiện nay. 

Cứ cái đà nầy, tôi e có ngày mình sẽ đọc được một câu thế nầy: “Người sĩ-chiến sinh-hi ngoài trận-mặt để vệ-bảo quốc-tổ, dân-nhân ở phương-hậu phải tỏ lòng ân-tri với các hùng-anh sĩ-liệt”!!! 

12.- Ghép từ bừa bãi. 

*KÍCH CẦU. Đó là nhóm từ “kich thích nhu cầu tiêu thụ” được ghép cho ngắn lại làm cho nghĩa trở thành hết sức tối tăm. Nghe từ ghép “kích cầu”, tôi cứ tưởng công việc của mấy ông công chánh đang thực hiên ở dưới sông. Cách ghép nấy nghe rất chướng tai nhưng lại rất phổ biến hiện nay. 

*GIAO HỢP. Có một chuyện ghép từ rất khôi hài mà người ta thường hay kể lại. Chuyện thế nầy: Đồng chí giám đốc phài một nữ nhân viên qua một xí nghiệp bạn với lời dặn đò cẩn thận: “Cô hãy sang đó và cố gắng thuyết phục cho họ chịu giao hợp nhé”. Ý đồng chí giám đốc muốn nói giao hợp có nghĩa là giao thiệp và hợp tác; không biết cô nữ nhân viên có hiểu đúng ý đồng chí giám đốc hay không 

13.- Dùng từ dao to búa lớn 

*CHIẾN. Đá bóng chỉ là một trò chơi thể thao thuần túy thế mà các xướng ngôn viên và bình luận viên của chúng ta luôn luôn gọi đó là cuộc chiến. Cuộc chiến thì phải có đổ máu, phải có quyết tâm tiêu diệt kẻ thù hay ít ra làm cho kẻ thù phải khốn đốn. 

Một hôm đi ngang qua sạp báo tôi thấy một tờ báo chạy một cái tựa rất lớn ở trang nhất: “nội chiến ở bán đảo Ibérique”. Tôi giật mình không hiểu tại sao giữa hai nước anh em Tây ban nha và Bồ đào nha lại nổ ra chiến tranh. Tôi vội vã móc tiền ra mua ngay tờ báo đó rồi chạy nhanh về nhà để đọc. Đọc xong, tôi ngã ngửa, Thì ra, trong một cuộc bốc thăm do FIFA tổ chức, hai đội tuyển bóng tròn của Tân ban nha và Bồ đào nha gặp nhau trong cuộc chơi play-off. Thế mà người ta dám gọi là nội chiến. Xin chào thua cách dùng ngôn từ Việt Nam ngày nay. 

*CHIẾN ĐẤU. Tôi đã từng nghe nói: “Chúng ta phải cương quyết chiến đấu với tư tưởng sai trái”. Nghe thực đáng sợ. 

*NGÀI. Đã có lúc, nhân danh lập trường giai cấp, lập trường ta bạn thù, người ta gọi các lãnh tụ của nước tư bản bằng thằng nọ thằng kia. Bây giờ, chúng ta chơi với tư bản thì ai người ta cũng gọi bằng “ngài”. Ngài thủ tướng, ngài đại sứ, ngài nghị sĩ, vân vân. Nghe có vẻ nịnh bợ quá đi thôi. 

*THAM QUAN.
參觀 Đi chơi để ngắm cảnh thì gọi là tham quan, có nghĩa là tham dự vào một công cuộc xem xét, nghiên cứu. Gọi thế mới hách chứ. 

*NGHIÊN CỨU SINH. Đi học thêm ở ngoại quốc, chuyện quá tầm thường, nhiều khi lợi dụng làm chuyện bậy bạ, lại tự tâng bốc mình là đi nghiên cứu. 

14.- Dùng từ Hán Việt thay từ Nôm một cách kỳ cục. 

*KHẨN TRƯƠNG Một đồng nghiệp của tôi định cư tại Úc từ năm 1975. Cách đây vài năm, thầy về Việt Nam lần đầu tiên và dùng tàu hỏa ra Hà nội thăm quê. Giữa khuya, tàu đến ga Đồng hới thuộc tỉnh Quảng bình. Đang ngủ say, bỗng thầy giật mình tỉnh dậy vì tiếng loa “… hành khách khẩn trương lên”. Thầy hoảng hồn phóng xuống giường, chạy ra khỏi buồng của toa xe vì tưởng xe trật đường rầy hay có hỏa hoạn xảy ra. Nhưng không, nhân viên trên toa tàu chỉ nhắc nhở hành khách nào xuống tàu ở ga nầy thì nhanh lên, thế thôi! Tội nghiệp, thầy Phụng hoảng hồn cũng phải vì ở miền Nam trước đây, ngươi ta ăn nói một cách giản dị và chỉ hay dùng tiếng Hán Việt trong văn chương và khi có việc nghiêm trọng mà thôi. 

*BÁO CÁO. Một người bạn đã nói với tôi: “Báo cáo anh, chiều nay tôi phải lên xe về Hà nội”. Tôi nghe chữ báo cáo thì cứ tưởng anh ta đang nói với một vị tư lệnh trên chiến trường. 

15.- Thay từ Hán Việt thông dụng bằng từ Nôm bất hợp lý. 

*MÁY BAY LÊN THẲNG. Cái loại máy bay có thể bay lên mà không cần phi đạo, ngày trước người miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, từ người có học đến người thất học, đều gọi bằng một cái tên rất gọn là trực thăng. Sau 1975, người ta sửa lại là máy bay lên thẳng, không hiểu lý do tại sao. 

*LÍNH THỦY ĐÁNH BỘ. Ngày trước miền Nam có một binh chủng đặt tên là Thủy quân lục chiến. Đó gần như là một danh từ riêng. Sau 75 thì sửa lại là lính thủy đánh bộ cho có vẻ nôm na, dù thủy và bộ vẫn là tiếng Hán Việt. Có người bảo rằng cái gì của ta thì dùng tiếng Hán Việt mới bảnh, còn cái gì của kẻ thù thì dùng tiếng Nôm để làm giảm giá trị. Nếu quả đúng như thế thì đó thực là một quan niệm hết sức sai lầm và xúc phạm một cách trầm trọng đến giá trị tiếng thuần Việt của dân tộc mình. 

16.- Chưa có được những từ thỏa đáng cho khoa học và kỹ thuật hiện đại. 

*COMPUTER dịch là máy vi tính là không thỏa đáng. Máy vi tính có nghĩa là máy dùng làm những phép tính rất nhỏ. Chức năng của computer không phải chỉ như thế. Xin để dành cho các nhà chuyên môn về kỹ thuật và các nhà ngôn ngữ nói chuyện với nhau để chọn từ cho chính xác. 

*INFORMATION TECHNOLOGIE dịch là tin học, cần xét lại 2 điểm. Thứ nhất, technologie là một kỹ thuật, dịch bằng một chữ học trơ trọi thì không ổn. Thứ hai, muốn dùng từ kép “tin học” thì 2 từ đơn phải đều là tiếng Hán Việt. Nhưng tin là tiếng Nôm còn tín mới là tiếng Hán Việt. *ON LINE, OFF LINE, dịch là trực tuyến và ngoại tuyến thì e không ổn. Ở tiếng Mỹ, on và off là 2 từ đối nghịch nhau thì dịch sang tiếng Việt cũng cần 2 từ đối nghịch nhau mới được. Cho nên dùng 2 từ trực và ngoại thì chẳng ổn chút nào. Một lần nữa, chúng ta chờ đợi sự bàn bạc giữa các chuyên viên kỹ thuật và ngôn ngữ. 



(trích TrieuThanh Magazine)

TIẾNG VIỆT THƯƠNG YÊU

Tiếng Việt thương yêu 

Tiếng Việt đáng yêu vô cùng. Tiếng tôi gọi mẹ đầu tiên là tiếng Việt, tiếng tôi chào bố đầu tiên là tiếng Việt, tiếng tôi nói đầu tiên với người yêu là tiếng Việt, tiếng nựng con đầu tiên của tôi cũng là tiếng Việt thân thương. Hầu như mọi người Việt Nam đều yêu tiếng mẹ đẻ của mình. 

Từ những năm xa, nhà thơ Huy Cận đã tâm tình: “Nằm trong tiếng nói yêu thương/Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời”. Cũng lâu lắm rồi, nhạc sĩ Phạm Duy đã viết lời Tình ca: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời...”. 

Ôi tiếng Việt yêu dấu ngàn năm! Tiếng Việt tình tứ, long lanh trong những câu ca dao, dân ca. Tiếng Việt uyển chuyển, tinh tế trong những câu Kiều. Tiếng Việt bình dị, rạch ròi trong vần thơ thầy Đồ Chiểu: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”. Có lần giở chồng báo cũ từ thời xa lắc trong thư viện quốc gia, tôi sững sờ bắt gặp một câu ca dân gian: “Giang sơn một gánh cheo leo/Qua sông nỉ nước, qua đèo nỉ non”. Chữ “nỉ nước” đi cặp với chữ “nỉ non” sao mà tuyệt thế. Lại có lần ở chốn quê nghèo, tôi lặng người khi tình cờ nghe một lão nông đứng trước giàn mồng tơi mà ứng khẩu đọc: “Ở gần sao chẳng sang chơi/Để anh kết ngọn mồng tơi bắc cầu”. 

Mới đây tới Vân Nam xứ bạn, đi qua những vườn lựu đầy hoa, tôi lại nhớ thơ Nguyễn Du: “Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”. Thân tình quá! Đúng là lửa từ những cây lựu kết thành bông, thành trái giữa mùa hè chói lọi nắng hồng. Lại có lần tôi đến nước Úc, lạ thay một bà già đứng bên lề đường đón tôi vào nhà. Hóa ra vì hoàn cảnh phải theo con gái sang tận châu Đại Dương để trông cháu, lúc rảnh bà thường ra đường đón đồng hương để được trò chuyện bằng tiếng Việt. Kỳ lạ hơn nữa, bà còn dạy tiếng Việt cho các cháu bé và chỉ dẫn đứa cháu gái sinh ra trên đất Úc mới chừng 5 tuổi mỗi ngày đều đặn chép nắn nót một trang Truyện Kiều vào cuốn vở lớn trắng bong, để nó khỏi quên chữ và tiếng nước mình. 

Bà già ấy, cũng như tôi, như nhiều người, đều yêu tiếng Việt đến tận cùng đời mình như thế. Nhưng tôi không chỉ yêu mà còn thương lo cho tiếng Việt. Bởi lẽ ngày nay vẫn có một số người coi nhẹ thứ ngôn ngữ từng nghe từ thuở nằm nôi. Trên đài, trên báo thôi thì mặc sức dùng tiếng Anh thay cho tiếng Việt. Nào là diễn đàn tuổi teen, nào là vấn đề “hot”, nào là khu resort Phú Quốc, nào là cuồng nhiệt với V.League, live show ca nhạc... 

Thật buồn đến héo ruột khi tiếng mẹ đẻ cứ vô tình bị làm nghèo, làm hỏng đi! Sâu thẳm lòng tôi mãi đồng vọng cảm xúc thơ của Lưu Quang Vũ: 

“Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết 

Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi 

...Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển 

Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya? 

...Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá 

Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình...”. 


TRẦN ĐỒNG MINH 

Theo báo Người Lao Động

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

TRONG RỪNG CÓ RẤT NHIỀU LỐI ĐI - VÀ TÔI CHỌN LỐI ĐI KHÔNG CÓ DẤU CHÂN NGƯỜI

TRONG RỪNG CÓ RẤT NHIỀU LỐI ĐI
VÀ TÔI CHỌN LỐI ĐI KHÔNG CÓ DẤU CHÂN NGƯỜI
                                                                          (Robert Frost)
Khi bước vào tầm tuổi đôi mươi, tôi nghĩ trong mỗi người, dù ít hay nhiều cũng đều có cái gọi là sự trưởng thành. Sở dĩ nói như vậy bởi đó là khi chúng ta bắt đầu phải suy nghĩ, phải lựa chọn một hướng đi cho cuộc đời mình. Nối gót những bậc tiền bối trên con đường họ đã mở ra hay tự chọn cho mình một lối đi mới? Ta cũng phải suy nghĩ nhiều lắm để trả lời câu hỏi ấy. Còn với nhà thơ người Mỹ Robert Frost thì:
Trong rừng có nhiều lối đi
Và tôi chọn lối đi không có dấu chân người
“Lối đi” là con đường, cách thức dẫn ta đến cái đích, cái kết quả mà mình mong muốn. Và thực tế có rất nhiều lối đi! Lối mòn, ngõ cụt, đường quanh co, có con đường dài, còn có cả đường tắt.... Cuộc đời thực cũng có rất nhiều con đường tựa như “một khu rừng có nhiều lối đi”, ngã rẽ, tựa như một bó những sợi dây định mệnh ta cầm trên tay mà không biết sợi nào là dành cho mình. Cuộc đời cũng như một cái mạng nhện khiến ta dễ đi lạc để rồi “mắc bẫy” nếu thiếu sự chủ động và tỉnh táo. “Tôi chọn” là sự chủ động, tích cực trong việc lựa chọn hướng đi cho chính mình. Và ở đây, nhà thơ người Mỹ chọn một “lối đi không có dấu chân người”. Đó là con đường mà chưa ai từng men theo, là một con đường mới, cách thức mới, là kết quả của sự sáng tạo, của những nỗ lực tự khẳng định chính mình. Có thể thấy, Robert Frost có sự chiêm nghiệm sâu sa về lẽ ở đời của riêng ông, rằng những con đường đi tới thành công, tới một cuộc sống hạnh phúc cũng giống như sáu tỉ cánh cửa dẫn tới cõi Niết Bàn, nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm ra cánh cửa của riêng mình với một sự chủ động tích cực, để tạo ra những giá trị thực sự cho cuộc sống.
Có lẽ giờ bạn đang tự hỏi tại sao việc chủ động lựa chọn một lối đi riêng lại cần thiết đến vậy? Có nhất thiết ta cứ phải đứng ra ngoài đám đông thay vì hòa lẫn nó? Vậy thì đầu tiên, hãy nhìn vào chính con người bạn. Mỗi người chúng ta có một khả năng nhận thức, suy nghĩ, quan niệm và cách nhìn khác nhau về giá trị sống và giá trị bản thân. Bạn khác tôi, chúng ta khác nhau và cũng khác rất nhiều người. Biết đến bao giờ, khi nào ta mới có thể tìm giữa bảy tỉ dân số thế giới kia một con người cùng chí hướng, cùng chung bản chất như ta để cùng đi một con đường, rồi lại san sẻ nhau cùng một số phận. Có thể một lúc nào đó, ta sẽ tìm được nhưng chẳng nhẽ ta lại cứ phải đợi chờ như vậy sao? Hãy dám tự bước đi. Cuộc sống có nhiều lối đi, thật phong phú biết bao và ở mỗi lối đi lại chứa đựng cả những cơ hội và thử thách. Nếu bạn chọn học theo ngành Y hay Kinh doanh, bạn khởi động chuyến đi bằng việc xin đi du học nước ngoài, thì có thể bạn sẽ có cơ hội để học tập ở môi trường thực tế hơn, năng động hơn nhưng cũng phải đối mặt với những khó khăn như sốc văn hóa, phải tự kiểm soát cuộc sống chính mình, hay tự quản lí thời gian làm sao cho “ngon lành” ... Không chỉ vậy, bạn cần nhận thức một thực tế là cuộc sống luôn vận động, phát triển theo quy luật tiến hóa của loài người và cộng đồng. Không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Bởi vậy, nếu ta lặp lại một lối đi người khác đã chọn, có thể ta sẽ trở nên lạc hậu, lỗi thời, và không tìm được tới cái đích thành công. Đời cũng như biển vậy, có lúc nào biển ngừng động đâu, và có khi nào con tàu lại không khỏi rung lắc trên sóng cả.
Tuổi mười tám, ta cứ loay hoay như một con rối ở giữa những ngã rẽ cuộc đời vậy. Làm thế nào để tìm được một lối đi cho riêng bản thân mình? Dù làm điều gì đi chăng nữa, trước hết ta cần nhận thức về thực tế đời sống và chính bản thân mình. Hiểu đời và hiểu mình là hai lẽ tất yếu để tạo nên thành công. Khi bạn có sự hiểu biết về điều kiện, môi trường xung quanh, bạn sẽ nắm bắt được những cơ hội và may mắn. Khi bạn có sự hiểu mình, bạn biết mình cần làm gì, ứng dụng kiến thức gì để đạt được điều bạn muốn. Bên cạnh đó, bạn cần lắng nghe bản thân mình, hãy tìm xem mình đâu là sở trường, là điểm mạnh của mình. Tận dụng thế mạnh cũng có nghĩa là bạn đang tận dụng tối đa năng lực của mình để hoàn thành công việc một cách tốt đẹp nhất. Cũng như chỉ có những hạt mầm tốt mới có thể gieo trồng nên những cái cây đầy sức sống nhất.
Bạn biết không, trong thế giới của chúng ta có những “ông trùm” - họ rất thú vị và khôn khéo từ khi còn nhỏ. Như ông trùm xứ Omaha, người giàu thứ ba thế giới Warren Buffett, từ khi chỉ mới là một đứa trẻ mười một tuổi, thường lân la đến nơi cha làm việc đã tự mình tìm hiểu về những con số khô khan trên bản niêm yết giá ở Harris Upham. Ông còn có một khả năng tính toán rất nhanh và chính xác và từ khi lên tám tuổi đã đọc các cuốn sách về thị trường chứng khoán. Những tư duy đầu đời đó đã khơi nguồn cho ý tưởng mua cổ phiếu và đầu tư, những bước đi đầu tiên trên chặng đường làm giàu. Ta tự hỏi nếu như những con số kia không lọt vào óc của cậu bé Warren Buffett, nếu như cậu bé đó không biết tận dụng những đồng tiền nhỏ lẻ của mình để mua cổ phiếu, nếu như cậu bé không biết tận dụng khả năng tính toán chính xác của mình vào các chiến lược đầu tư kinh doanh, thì hẳn ta đã không biết đến một nhà đầu tư tài ba bậc nhất Warren Buffett của ngày hôm nay. Còn ông trùm máy tính Bill Gates thì sau khi đã nạp đầy bộ nhớ của mình những cuốn tạp chí kinh doanh khi mới mười lăm tuổi, đã cùng một người bạn thân đi kinh doanh huy hiệu trong cuộc vận động tranh cử tổng thống. Cậu bé này đã bỏ tiền ra mua năm nghìn huy hiệu với giá năm xu một cái. Sau đó, khi những chiếc huy hiệu này được những người sưu tầm săn lùng, cậu bán lại với giá hai mươi lăm đô một cái. Câu chuyện này không liên quan đến máy tính, nhưng lại là một bài học cho tất cả những người theo đuổi giấc mơ kinh doanh.
Không phải ai đi rồi cũng sẽ đến đích theo ý mình. Bởi một con đường mới đem đến cho ta cả cơ hội và cả những khó khăn thử thách. Để vượt qua những trở ngại đó, ta không chỉ dựa trên năng lực bản thân mà còn cần tự củng cố cho mình về mặt tinh thần. Giả dụ như bạn hình thành một ý tưởng lớn, một ý tưởng mới, một ý tưởng có khả năng thay đổi chính bạn một cách tích cực nhất. Có thể đồng nghiệp yêu quý bạn, nói rằng họ ủng hộ bạn, nhưng thực chất không phải ai cũng mong chờ sự thay đổi của bạn đâu. Có rất nhiều người mà sâu trong thâm tâm họ muốn mọi thứ cứ nguyên vẹn, để họ không phải làm quen lại với con người mới sau này của bạn, và thay đổi động lực của họ với bạn. Đó là bởi ý tưởng mới, con đường mới hoàn toàn có thể thay đổi cán cân quyền lực. Lúc này chỉ còn lại mình bạn bơ vơ ở chính nơi mình làm việc, và đó cũng là lúc bạn cần tỉnh táo và củng cố niềm tin của mình hơn bao giờ hết. Bạn cần có một thái độ sống can đảm, dám đương đầu với dư luận, chịu trách nhiệm về công việc của mình. Ngay trong thực tế, bạn cũng có thể tìm thấy những tấm gương nổi bật. Đó là Khánh Thy - kiện tướng dancesport, người đã mang bộ môn khiêu vũ thể thao của thế giới đến với Việt Nam. Có thể nói đây là một điều rất khó khăn bởi đã có thời điểm, người dân ta có cái nhìn không tích cực lắm về bộ môn nghệ thuật này. Đó còn là LK, Mr.T, ... những cái tên còn rất trẻ nhưng đã xây dựng và phát triển nền rap Việt, một hình thức nghệ thuật rất mới ở Việt Nam và thậm chí, những người lớn tuổi còn cho rằng nó rất điên loạn, trở nên phổ biến và được nhiều bạn trẻ đón nhận và yêu thích. Chọn một lối đi cho riêng mình, đôi khi cũng là một cách thử bản lĩnh của chính mình.
Bên cạnh đó, ta cần có sự nhạy bén với những cơ hội. Hãy tự biến mình thành chiếc ra - đa bén nhạy để có thể bắt “sóng” cơ hội ở mọi thời điểm. Và hơn hết là khả năng hành động, giải quyết yêu cầu của công việc. Một người bị câm thì không thể trở thành một nhà diễn thuyết nổi tiếng được. Thay vì cứ mông lung giữa những suy nghĩ không rõ ràng về con đường riêng mà ta chọn, tôi nghĩ chúng ta nên cầm bút và viết ra những gì ta có thể làm, những gì ta tự tin mình hoàn thành tốt. Như tôi đã nói ở trên, bạn cần phải nhìn ra điểm mạnh của mình, và đặc biệt là hãy sử dụng nó như những chiếc chìa khóa mở cánh cửa dẫn tới thành công. Tuy vậy, ta cũng cần nhận thức một điều rằng không phải chỉ có tạo ra một con đường riêng, ta mới có thể thành công. Trong cuộc sống xung quanh ta vẫn có rất nhiều những người, dù không có một định hướng mới mẻ, khác biệt, họ vẫn tạo nên dấu ấn của riêng mình. Dù bạn đi trên con đường đã từng có dấu chân người, thì bằng trí óc, tâm hồn mình, bạn vẫn tạo nên hương sắc riêng cho những tạo vật trên đường.
Có thể nói hai câu thơ của Robert Frost là một nguồn độc lực thôi thúc con người, đặc biệt là những người trẻ tuổi trẻ lòng đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời có nhiều cơ hội cũng như rủi ro. Và cũng chính nó đã tạo nên một nguồn cảm hứng sáng tạo để con người tìm ra một con đường mới chủ động hơn. Không chỉ vậy, tác giá của hai câu nói này là một nhà thơ - người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, một lĩnh vực đòi hỏi sự sáng tạo dồi dào. Bởi vậy, tiếng thơ kia còn là một yêu cầu nghiêm khắc người nghệ sĩ cất lên để nhắc nhở bản thân mình cũng như những ai cầm bút sáng tác, rằng nghệ thuật phải đi cùng với sự sáng tạo. Sáng tạo làm nên giá trị và ý nghĩa cho cả tác phẩm và người viết, như Suối nguồn, cuốn tiều thuyết hay nhất thế kỷ XX của Ayn Rand, hay một Harry Potter kinh điển của bà góa phụ J. K. Rowling của thế kỷ XXI ...
Tuổi hai mươi bạn thấy mình như một con thiêu thân vậy, luôn khát khao hướng về ánh sáng bất chấp sức nóng của lửa đèn. Đã đến lúc những người trẻ tuổi trẻ lòng như tôi, như bạn cần tỉnh táo tìm cho mình một lý tưởng, một lối đi. Lối đi đó có thể riêng, có thể chung nhưng điều quan trọng là hãy để tâm hồn và trí óc bạn lan tỏa tinh hoa cho nhân loại. Và dù bạn ở đâu, làm gì, cuộc sống có ra sao, bạn cũng cần luôn thôi thúc mình sáng tạo và bản lĩnh đi tới cùng những ý tưởng, định hướng của mình. Hãy trở nên khác biệt một cách tích cực, cho dù xung quanh ta, có những con người không thỏa mãn với điều đó của ta. Cái giá của việc làm cừu là nhàm chán, cái giá của việc làm sói là cô đơn. Vậy bạn chọn làm cừu hay làm sói?

TÁC GIẢ: NGUYỄN MINH NGỌC
THPT CHUYÊN NGUYỄN TRÃI - HẢI DƯƠNG

MỘT CHIỀU VẮNG TIẾNG CHIM VỀ



TẢN MẠN VỀ MỘT CHIỀU VẮNG TIẾNG CHIM VỀ

TÁC GIẢ: HÀ NHÂN

Chiều xuống với cơn mưa vừa tạnh. Đường vẫn còn ướt nước và cơn mưa như vẫn còn quyến luyến với những giọt nước rơi từ lá cây. Những đàn chim gọi nhau về ríu rít dưới những tàng cây. Tiếng ríu rít khoan nhặt khiến người ta dễ nhầm tưởng là tiếng máy phát ra cho đường phố bớt khô khan tù túng. Có một lần tôi cũng đã tưởng nhầm như vậy, khi đứng đợi đèn xanh sang đường trên một con phố sầm uất của thành phố một nước láng giềng. Tiếng chim vô tư nhưng luôn làm cho bất cứ nơi nào con người đến sống cảm giác gọi là đất lành.

Chiều nay, thành phố cũng vừa tạnh mưa. Ngước lên những tàng cây rũ rượi, tịnh không nghe thấy gì ngoài tiếng còi, tiếng gầm rú của xe cộ, tiếng khoan đục từ đâu đó trong ngõ sâu. Đôi lần tôi tự hỏi những đàn chim sẽ về đâu trú đêm giữa thành phố rộng lớn này? Nhất là những ngày mưa gió dữ dội hay nắng nóng nung người. Một sớm đến văn phòng thấy dưới cửa chớp hành lang, một xác chim sẻ nâu bay lạc nằm bất động. Nỗi buồn nhen lên đầu ngày cứ lớn dần cho đến chiều, khi đi bộ ra con đường tương truyền thường có đàn cò ngủ thuở xa xưa nào đó.

Thành phố giờ như quá rộng khi vắng tiếng chim. Như khi ta rời trang sách khô khan chỉ bắt gặp bầu trời vuông qua ô cửa kính. Như khi ta lướt qua một người với chiếc khẩu trang chặn một lời chào. Như khi ta chịu trận một cơn mưa bất ngờ mà lòng lạnh buốt. Như khi ta đầu trần giữa phố sau buổi học mà không thể dừng lại bất kì một bóng mát hiên che. Như khi tiếng lòng lịm tắt trước khi đáng ra phải được ngân rung. Như khô khan cuộc sống vắng tiếng cười, vắng một lời tử tế, vắng những thanh âm gieo vào lòng người có giai điệu ân tình. Thành phố vắng tiếng chim nhắc ta rằng đã vắng đi nhiều thứ dịu dàng quen thuộc. Nhắc lòng mình đã rỗng đi nhiều điều quý giá.

Có khi nào ta rất yêu đàn cá ta nuôi trong bể mà cư xử vô cùng tệ với những sông hồ ngoài kia. Rằng có khi ta nuôi đến cả một hiên nhà đầy những lồng chim chạm trổ mà đêm đêm vẫn vác súng hơi đi dọc con đường dẫn lên sân bay để bắn hạ những chú chim đang thiêm thiếp ngủ sau một ngày rã cánh bay. Ta yêu thú cưng nhưng không hẳn đã quý thiên nhiên. Rằng ta vun vén một thú chơi mà quên trách nhiệm với mẹ thiên nhiên. Rằng ta hít thở nhiều cho sức khỏe mình mà quên dưỡng khí cho muôn loài đang vì thế mà thêm cạn kiệt. Rằng đôi khi ta gào thét, gầm rú, bấm còi quá nhiều át cả tiếng muôn loài, khiến một ngày chim cũng phải bỏ người bay đi nơi khác.

Khi hàng cây trên phố đêm về vắng tiếng chim gọi, cũng là khi ta tự biết lòng mình đã mất mát những âm thanh. Chẳng khác nào mỗi ngày ta tự nổi gió để mình cuốn vào nơi trống rỗng tâm hồn.






Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

CẨM LINH DƯƠNG.BLOG: ÔN THI TỐT NGHIỆP 2013-2014: ĐẤT NƯỚC (TÀI LIỆU TH...

CẨM LINH DƯƠNG.BLOG: ÔN THI TỐT NGHIỆP 2013-2014: ĐẤT NƯỚC (TÀI LIỆU TH...:                 BÀI : ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM CÂU HỎI : Hoàn cảnh sáng tác, mục đích và chủ đề đoạn trích “Đất nước” của Nguyễ...