Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

NHÂN VẬT VIÊN QUẢN NGỤC TRONG "CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ" CỦA NGUYỄN TUÂN.



NHÂN VẬT VIÊN QUẢN NGỤC TRONG TÁC PHẨM
“CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN.
“Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”.
1. Nguyễn Tuân là một trong những cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Trước Cách mạng tháng Tám, ông nổi tiếng với tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” trong đó  “Chữ người tử tù” là một tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc. Truyện ngắn này tập trung thể hiện vẻ đẹp của các nhân vật và qua đó thể hiện tư tưởng của Nguyễn Tuân. Bên cạnh nhân vật Huấn Cao “văn võ song toàn”, đẹp cả trong tài năng, phẩm cách, thiên lương là nhân vật viên quản ngục với những nét đẹp rất riêng. Nhà văn rất quý trọng nhân vật này mà nhận xét trực tiếp: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻ chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.
2.Hoàn cảnh sống và làm việc của nhân vật Viên quản ngục.
Quản ngục làm chức phận cai tù, sống và làm việc trong đề lao, nơi tồn tại của những cái xấu, cái ác, cặn bã của xã hội. Hằng ngày ông sống giữa gông xiềng tội ác, phải chứng kiến bao điều tàn nhẫn, lừa lọc giữa một đống cặn bã, giữa lũ quay quắt. Cảnh sống ấy dễ dìm chết con người, dễ đẩy con người vào bùn nhơ.
3.Viên quản ngục là một người sống khác hoàn cảnh, là người có tâm hồn trong sáng, có tính cách dịu dàng.
-Có thể thường ngày viên quản ngục cũng phải dùng những mánh khoé hành hạ tù nhân khi đón họ vào nhà giam của ông. Nhưng khi nhận được công văn đón những tử tù đặc biệt: Huấn Cao và những bạn đồng chí của ông, thì Viên quản ngục đã có những thay đổi nhất định.
-Trong thế giới tối tăm của nhà tù, Viên quản ngục như lạc lõng, cô độc trong thế giới riêng của mình: một ngọn đèn leo lét, một bóng tối mịt mù, quạnh quẽ, tiếng trống thu không, tiếng kiểng, tiếng mõ thưa thớt, tiếng chó sủa và những bóng ma mơ hồ huyền bí cứ ám mãi vào màn đêm hoang hút… Những sợi dây, vòng trói vô hình cứ tròng lên, thít vào cuộc đời mòn rỉ của ngục quan đang băn khoăn ngồi bóp thái dương.
-Ngoại hình: tóc hoa râm, râu đã ngả màu, bộ mặt tư lự. Viên quản ngục như đang trải qua cuộc đời cô đơn, dáng vẻ trầm tư kia cho thấy ông đang phải trăn trở trước một việc khó xử. Huấn Cao là một tài năng hiếm có, một nhân cách đáng trọng, lại là người viết chữ đẹp vang dội thiên hạ, ông cũng khao khát có được chữ Huấn Cao treo ở nhà riêng của mình.
-Cách chuyển giọng văn của tác giả: “những đường nhăn nheo của một khuôn mặt tư lự giờ đã biến mất hẳn, ở đó chỉ còn mặt nước ao xuân bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ” như một nhịp chuyển trong diễn biến tâm lí của nhân vật: quyết định biệt đãi Huấn Cao đã làm cho diện mạo viên quản ngục tươi sáng khác thường, đối lập không gian u ám tối tăm của nhà tù; niềm vui mừng khi được tiếp nhận một người tù tài hoa, có nhân cách đáng trọng.
Quản ngục có nhiều suy tư khi đón nhận tù nhân như thế này thật là hiếm có, là một việc trái lập hoàn toàn với công việc của ông.
-Là người làm nghề cai ngục, một công cụ trấn áp của bộ máy thống trị đương thời nhưng ông lại có thú chơi thanh cao tao nhã: chơi chữ nghệ thuật.
Sở thích cao quý này đối lập một cách dữ dội với công việc và hoàn cảnh sống của ông, cho thấy ông là người biết trân trọng những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
Hoàn cảnh đề lao với sự ngự trị của cái xấu, cái ác nhưng tâm hồn trong sáng của ông không bị hoen ố, mờ nhoè.
Tâm hồn trong sáng và sở nguyện cao quý của ông (một ngày nào đó được treo chữ của Huấn Cao trong nhà riêng) đã làm dịu thái độ ngông ngạo, kiêu bạc của Huấn Cao đối với ông và đã khiến Huấn Cao xúc động mà cho chữ, coi ông như một tri kỉ tri âm không hẹn mà gặp trong cuộc nhân sinh rộng lớn này, Huấn Cao sau khi cho chữ còn khuyên những lời chân thành, có ý nghĩa như chân lí nghệ thuật và vẻ đẹp nhân cách của con người.
-Khi tiếp nhận công văn giải tử tù vào kinh chịu án chém, viên quản ngục đã đau đớn đến tái nhợt người đi. “Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi sau khi tiếp đọc công văn. Quan hình bộ thượng thư trong kinh bắt giải ông Huấn Cao và những người bạn đồng chí của ông vào kinh. Pháp trường lập ở trong ấy kia. Ngày mai, tinh mơ, sẽ có người đến giải tù đi”. Viên quản ngục thực sự đã rơi vào một tình huống bế tắc và tuyệt vọng. Một tài năng hiếm có, một nhân cách cao quý được ông trân trọng, kính yêu và nâng niu từng giờ khắc đã sắp phải từ giã cõi đời, sắp phải chấm dứt cuộc đời đầy hoài bão tung hoành và khí phách hiên ngang bất khuất. Viên quản ngục chỉ có thể biệt đãi ông Huấn cho ông Huấn đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại nhưng sự việc này thì ông không có cách gì níu giữ hay thay đổi được nữa. Ông Huấn sắp phải chịu án chém mà viên quản ngục còn chưa xin được chữ của ông, không dám bày tỏ sở nguyện của mình…Nỗi đau khổ và niềm day dứt đan hoà trong tâm trạng ông.
-Niềm tâm sự kín đáo của quản ngục cuối cùng cũng đã gặp được sự cảm thông của thầy thơ lại và nhờ thế mà ông Huấn Cao biết được. Thật bất ngờ và xúc động, Huấn Cao không chỉ cho chữ mà còn coi viên quản ngục là tri kỉ, tri âm, còn tặng quản ngục những lời khuyên chân thành, giàu ý nghĩa. Viên quản ngục đón nhận tấm lòng ấy một cách thành kính, khúm núm, lắng nghe những lời khuyên của người mình tôn thờ bấy lâu như lĩnh nhận những di huấn thiêng liêng của một bậc hiền minh cao cả trước khi người đó đi vào cõi bất tử. Cái khúm núm bái lạy và dòng nước mắt của ngục quan ở đây không làm cho ông nhỏ bé, hèn yếu đi mà làm cho ông trở nên trong sáng, lương thiện hơn, ông đã được vẻ đẹp toàn diện cả Huấn Cao, tử tù, dẫn dắt. Người đọc, vì thế, cũng thêm yêu quý viên quan coi ngục này hơn.
4.Viên quản ngục có lòng biết giá người, biết trọng người ngay,  người có phẩm chất tốt đẹp.
-Trong hoàn cảnh đề lao với những tăm tối, lừa lọc ngự trị nhưng viên quản ngục vẫn luôn biết trân trọng giá trị con người, trọng người tài, trọng phẩm chất cao đẹp của con người.
+Khi mới tiếp nhận công văn đón nhận các tử tù đến trại giam của ông, ông đã khẳng định tài năng cả Huấn Cao qua tiếng đồn của người đời với thái độ trầm trồ thán phục: “Huấn Cao, cái người mà cả tỉnh Sơn ta khen cái tài viết chữ rất nhanh và đẹp”.
+Ông suy nghĩ về phẩm chất, nhân cách của thầy thơ lại, về câu nói ban chiều của thầy thơ lại: “một người có tài như thế mà đi làm giặc thì thật đáng tiếc. Giả thử tôi là đao phủ, phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc”, quản ngục còn suy nghĩ, day dứt về việc chọn nghề của mình và thầy thơ lại. “Có lẽ lão bát này cũng là người khá đây, có lẽ lão cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi”. Ông còn băn khoăn ngồi bóp thái dương suy nghĩ về cách ứng xử với Huấn Cao và những người bạn đồng chí của ông Huấn. Ở đây, người đọc thấy viên quản ngục là người tận tuỵ với công việc, chu đáo và thận trọng trước mọi sự việc xảy ra nhưng một người coi ngục mà phải băn khoăn tìm cách ứng xử thích hợp, ứng xử như thế nào cho tốt, cho chu đáo với tử tù “có tiếng là nguy hiểm” thì quả là việc bất thường, ắt ông “không phải là kẻ xấu hay vô tình”.
-Viên quản ngục là người kiên trì, nhẫn nại và dũng cảm. trong những ngày Huấn Cao ở đề lao, ông đã biệt đãi Huấn Cao và những người bạn đồng chí của ông Huấn. Đây là một việc làm rất nguy hiểm với ông, về chức vụ, về quyền lợi, thậm chí là nguy hiểm cả về tính mạng của ông. Vì Huấn Cao là kẻ trọng phạm, phải chịu án chém. Quản ngục vì cảm phục nghĩa khí, tài năng cả ông Huấn, chỉ muốn cho “ông ta đỡ cưc trong những ngày cuối cùng còn lại” của cuộc đờ đáng trọng nên ông chấp nhận tất cả, chấp nhận sự nguy hiểm, chấp nhận cả thái độ khinh bạc kiêu ngạo của ông Huấn.
-Viên quản ngục hiểu rõ khoảng cách khá xa giữa mình và Huấn Cao, người mà mình kính trọng. Ông đã vchuanar bị sẵn những phiến lụa óng, can lại một cách cẩn thận và thoi mực thơm, những đồng tiền để đánh dấu ô chữ nhưng ông dám bày tỏ sở nguyện thầm kín cảu mình với ông Huấn. Vì “ông không dám giáp mặt một người cách xa” ông nhiều quá. Ông cũng nhận, hiểu rõ khoảng cách khá xa giữa mình và ông Huấn, đó không phải là khoảng cách về thân phận, địa vị xã hội mà là khoảng cách về tài năng, khí phách, nhân cách. Thế nên “điều khổ tâm nhất của viên quan coi ngục này là có một ông Huấn Cao trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm cách nào xin được chữ”.
=>Ở đây, Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật viên quản ngục vào một tình huống đầy kịch tính, viên quan coi ngục này đã phải đứng trước hai sự lựa chọn: hoặc là làm tròn bổn phận của một viên quan coi ngục thì phải chà đạp lên sở nguyện thanh cao của mình, hoặc là muốn thực hiện khao khát tinh thần đáng trân trọng thì phải chà đạp lên nghĩa vụ, bổn phận “người nhà nước” của mình. Nếu lựa chọn cách thứ nhất, con người rơi vào trạng thái tầm thường, hèn hạ, viên quản ngục không bao giờ rút chân lên khỏi đống bùn đen được. Lựa chọn cách thứ hai, chiến thắng thuộc về cái cao cả và với ông Huấn, viên quản ngục là một “tấm lòng trong thiên hạ”, là một tri kỉ tri tri âm không dễ tìm gặp trong cuộc đời.
=>Nguyễn Tuân thật sự rất trân trọng con người, ông đã nâng cao tầm vóc, nhân cách nhân vật của mình khi ông để cho quản ngục dằn vặt về việc xin chữ Huấn Cao. Viên quản ngục thực sự rât dũng cảm khi bất chấp nguy hiểm để biệt đãi tử tù – biệt đãi tội phạm nguy hiểm của triều đình, dũng cảm khi dám khao khát chữ của tử tù. Nhưng điều mà khiến người đọc trân trọng ở con người này không phải vì thế mà vì quản ngục đã biết trân trọng con người, biết giá trị con người. Ông muốn có chữ của Huấn Cao nhưng ông cũng hiểu tính cách ông Huấn là người không sợ quyền thế nên không thể dùng bạo lực, dùng những trò hành hạ tù nhân để ép ông Huấn viết chữ được. Đó cũng là điều khiến người đọc cảm nhận được cái thanh khiết ở quản ngục khi ông bị ông trời chơi ác, đem đày ải giữa một đống cặn bã, giữa lũ quay quắt.
6. Thái độ, tình cảm của Nguyễn Tuân:
-Trong ngòi bút khai thác và khám phá cuộc sống, Nguyễn Tuân đã rất trân trọng, yêu quý vẻ đẹp nhân cách con người. Nhân vật Huấn Cao được ông xây dựng bắng bút pháp lãng mạn, lí tưởng hoá với tất cả những vẻ đẹp được người đời ngưỡng mộ, nhân vật viên quản ngục cũng nhận được những tình cảm đặc biệt của Nguyễn Tuân khi ông dùng những hình ảnh so sánh rất đẹp để khẳng định thiên lương lành vững, khẳng định viên quản ngục là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ.
-Tác giả cũng thật tinh tế và mạo hiểm khi đặt nhân vật của mình trong hoàn cảnh éo le, trong tình huống kịch tính đặc biệt. Nhưng ngời bút tài hoa độc đáo của ông cũng đã đem đến cho người đoc những hiểu biết thú vị. Nhân vật viên quản ngục không được tác giả đặt tên để gọi nhưng vẻ đẹp tâm hồn nhân vật này cũng đã khẳng định rằng ở bất cứ nơi đâu, kể cả những nơi chỉ có bóng tối và tội ác ngự trị cũng vẫn có những con người lương thiện. Qua đó, tác giả cũng thể hiện niềm tin vào bản chất tốt đẹp của con người, bản chất ấy không bị chi phối, tác động  bởi hoàn cảnh, môi trường. Nhân vật viên quản ngục đã là người chiến thắng, chiến thắng cảnh ngộ, chiến thắng chính mình, vươn tới những giá trị cao đẹp về nhân cách con người.
-Xây dựng nhân vật viên quản ngục, Nguyễn Tuân cũng sử dụng ngòi bút lãng mạn độc đáo: những tình huống trái ngược, những câu văn so sánh, những nét miêu tả ấn tượng.
KL: Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái thật và cái đẹp. Ông luôn nhìn thấy ở con người vẻ đẹp trong trẻo, kín đáo ngay cả khi họ ở trong hoàn cảnh éo le nhất. Xây dựng nhân vật viên quản ngục, ông thể hiện niềm tiếc nuối về những giá trị văn hoá cao đẹp của dân tộc đang bị rơi vào quên lãng; ông cũng thể hiện niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, thiên lương trong sáng của con người. Ông đã để lại trong lòng người đọc nhiều thế hệ những nhân vật rất sống và những bài học đáng quý về nhân phẩm, về tâm hồn cao đẹp. Nhân vật viên quản ngục trong “Chữ người tử tù” đúng là người có “tính cách dịu dàng,lòng  biết giá người, biết trọng người ngay” trong hoàn cảnh đề lao tàn nhẫn, lừa lọc. Tính cách ông đúng là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.
                                                          Nguyên Hạnh – Đồng Gia

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? (HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG)



Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Hoàng Phủ Ngọc Tường

            I. Về thể loại - loại hình
            Ai đã đặt tên cho dòng sông ? là tác phẩm nằm trong loại hình kí và thuộc thể loại bút kí văn học. Bút kí văn học có dung lượng gần như truyện ngắn, ghi chép về những sự kiện, con người có thực, đồng thời trình bày trực tiếp cảm nhận, suy nghĩ của tác giả về những sự kiện, con người ấy. Đọc một bút kí, cái mà người ta chờ đợi trước hết là tính có vấn đề của nó, gắn liền với việc tác giả thể hiện được những khám phá sâu sắc về đối tượng, đề xuất được những tư tưởng, quan niệm có ý nghĩa đối với đời sống hiện tại.
            Ranh giới giữa bút kí văn học và tuỳ bút văn học nhiều khi khá nhập nhằng, đặc biệt trong trường hợp tác giả quan tâm nhiều tới việc biểu lộ cái tôi nghệ sĩ phóng khoáng, tự do, giàu tiềm lực văn hoá của mình và chọn một hình thức diễn tả có duyên, đầy màu sắc biểu cảm, chứa đựng nhiều liên tưởng, tưởng tượng độc đáo... Do có những đặc điểm vừa nói, Ai đã đặt tên cho dòng sông ? cũng có thể được xem là một thiên tuỳ bút đặc sắc (xem thêm phần nói về thể tuỳ bút ở bài Người lái đò Sông Đà).

II. tiếp cận văn bản
            Viết về bất cứ dòng sông nào trên trái đất, người ta cũng cần có, cần thể hiện được một tình yêu tha thiết, lắng sâu và một sự am tường không hề sách vở về những vấn đề địa lí, lịch sử và văn hoá gắn liền với chúng. Bởi các dòng sông luôn là cái nôi của những vùng, những nền văn hoá đa dạng, lắm sắc màu và là đối tượng mà các cư dân sống trong vòng tay của chúng phải vô hạn biết ơn. Viết về con sông Hương cũng cần và lại càng cần như vậy. Đây là một thách thức nhưng là thách thức đã được chuyển hoá thành niềm giục giã đầy tự nhiên, đầy xao xuyến trong tâm hồn những ai yêu sông Hương, yêu Huế. May thay, chúng ta đã có được những nhà thơ, nhà văn tài năng vượt qua được các thách thức nói trên  để tặng cho sông Hương những tác phẩm bất hủ[1]. Trong những nhà thơ, nhà văn đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đã viết nên một thiên tuyệt bút có nhan đề là Ai đã đặt tên cho dòng sông ?
            Vang lên từ nhan đề, trước hết, câu hỏi Ai đã đặt tên cho dòng sông ? có dáng dấp của một thoáng ngẩn ngơ rất thi sĩ (và theo chính tác giả cho biết thì đó là câu hỏi của một thi sĩ đích thực). Từ thoáng ngẩn ngơ này, bao nhiêu ấn tượng về cái đẹp của sông Hương sẽ ùa về trong tâm trí, khơi lên mạch viết dạt dào cảm xúc về "nhan sắc" thiên phú của dòng nước êm đềm chảy qua Huế cố đô. Vang lên những lần khác trong tác phẩm[2], câu hỏi biến thành một nỗi suy tư thâm trầm, đánh động bao vốn liếng văn hoá tích tụ trong người viết và cũng đòi nó phải được hiện diện trên trang giấy. Vậy đó, ta đang nói đến những mạch cảm hứng lớn đã dẫn dắt nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đến và đi với sông Hương, để rồi tiếp nữa, làm một cuộc viễn du vào lòng muôn độc giả, đóng vai người truyền cảm hứng cho họ bộc lộ tình yêu xứ sở hết sức thiết tha của mình.
            Thông thường, người ta hay sử dụng phép nhân hoá khi miêu tả thiên nhiên. Kể cũng là điều dễ hiểu, bởi trong văn học, các đối tượng không bao giờ xuất hiện như những "khách thể tự nó" mà như những "vật" thể hiện nỗ lực của con người nhằm chủ quan hoá toàn bộ thế giới khách quan. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã nhân hoá sông Hương. Nhưng nhân hoá ở đây không chỉ là nhân hoá trong từng đoạn miêu tả rời rạc với mục đích làm cho câu văn, hình ảnh trở nên sinh động. Ông đã thực sự xây dựng sông Hương thành một nhân vật, một con người, để được chuyện trò, đối thoại cùng nó. Điều này hoàn toàn hợp lẽ, bởi chẳng phải ta vẫn quen nghĩ rằng các dòng sông vừa là kẻ đồng sáng tạo, vừa là chứng nhân lịch sử, văn hoá của một vùng đất hay sao ? Dưới ngòi bút tài hoa và cái nhìn đầy mê đắm, trân trọng của tác giả, sông Hương cũng có một cuộc đời phong phú trải qua nhiều giai đoạn, khi gian truân, khi êm đềm. Giữa lòng Trường Sơn, nó chính là "một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại", có "bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng". Còn khi đã ra khỏi rừng, "sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở". Sông Hương có "phần tâm hồn sâu thẳm", có vẻ mặt lúc trầm mặc, lúc vui tươi, có thái độ đầy ân tình với Huế khi dành cho cố đô "điệu slow tình cảm" vô cùng giàu ý nghĩa... Tác giả đã thực sự trở thành một tri kỉ của sông Hương, hiểu ngọn ngành khí chất của nó, và hơn thế, còn chu đáo đề xuất với chúng ta một cách nhìn toàn diện về người bạn của mình : "Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương...". Ông dõi theo từng khúc quanh, nét lượn, bước ngoặt rất cụ thể của sông Hương để nói với độc giả về những "ý tứ" mà sông Hương muốn biểu lộ trước con người và miền đất Châu Hoá xưa : "Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén ; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế".  Theo tác giả, sông Hương đã thật "tâm lí" khi "trôi đi chậm, thực chậm" qua kinh thành Huế, như để yên ủi người ta đừng quá sầu muộn về sự biến đổi vô thường của cuộc đời, về sự vèo qua chóng mặt của thời gian. Dòng nước sông Hương đã lặng lờ một cách cố tình để muôn nghìn ánh hoa đăng trong đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về qua Huế "bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở". Bằng "cách trôi" rất riêng đó của mình, sông Hương như muốn nhắc người ta rằng cuộc đời này có rất nhiều cái đáng vương vấn. Rồi nữa, nếu không nhờ sự phát hiện đầy tính chất đồng điệu của tác giả đối với sông Hương, mấy ai biết rằng việc sông Hương đột ngột đổi dòng ngay khi vừa định chia tay Huế là thuận theo một lí do rất tình cảm, rất "người' : chẳng qua, nó muốn gặp lại Huế "để nói một lời thề trước khi về biển cả". ở đây, có đến ba thái độ chí tình cùng "hợp lưu" với nhau : cái chí tình của sông Hương đối với Huế, cái chí tình của con người Huế trong tình yêu (như là một phẩm chất được thấm nhiễm từ sông Hương) và cái chí tình của chính tác giả dành cho sông Hương, dành cho cả mảnh đất xưa gọi là Châu Hoá ! Suy cho cùng, nếu không có cái chí tình của tác giả thì cái chí tình của sông Hương không thể trở thành một "khách thể tinh thần" hiện diện trong đời sống chúng ta và gây ấn tượng sâu đậm đến vậy !
            Nếu biết cất lên tiếng người, hẳn sông Hương sẽ nói rằng nó đã thực sự yên tâm khi chọn trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường để hoá thân. Có lẽ chính nhà văn cũng nhận thấy, cũng hiểu niềm tin cậy đó, nên từng câu văn của ông bay bổng, diễm ảo lạ thường. Nhiều lúc, độc giả có cảm tưởng ngôn từ trong bài bút kí không phải là của tác giả dùng để mỉêu tả sông Hương mà chính là ngôn từ của sông Hương đang hát lên bài ca của mình. Ngôn từ ấy trôi chảy hết sức tự nhiên, nếu có "luyến láy" thì cũng "luyến láy" một cách tự nhiên, bởi chất hào hoa, đa tình vốn đã là cái gì thuộc về căn cốt của người viết rồi. Hãy thử đọc lại một vài đoạn : "Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng", "Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà", "Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam - đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non",... Theo một cái nhìn mang tính phân tích, có thể thấy trong các đoạn văn trên, tác giả đã vận dụng khá nhiều thủ thuật ngôn từ, từ việc phối hợp hài hoà thanh điệu của các tiếng tới việc lựa chọn những định ngữ đắt nhất cho các đối tượng được miêu tả, từ việc sử dụng các ẩn dụ, so sánh đích đáng tới việc "khảm" một cách khéo léo ý tứ của các văn bản xưa vào văn mạch mới. Tuy vậy, đọc chúng lên, ta không có cảm giác cộm, vướng, bởi tác giả đã hoàn toàn làm chủ những thủ thuật ngôn từ kia, bắt chúng vâng phục tuyệt đối sự điều hành của mình. Nói rộng ra, thiên bút kí đưa đến rất nhiều thông tin mà đọc lên vẫn thấy thanh thoát là nhờ thế.
            Nhất quán với cách nhìn sử thi vốn có, Hoàng Phủ Ngọc Tường không quên tô đậm niềm "quang vinh" mà sông Hương đã có được trong lịch sử dài lâu của dân tộc. Có lẽ để khỏi mang tiếng là "thiên vị", ông đã dẫn ra các "lời chứng" vừa từ sử sách vừa từ những con người đã thực sự can dự vào cuộc kháng chiến vừa qua của dân tộc. Nhưng đồng thời, nhà văn cũng thấm thía rằng mọi thứ trên đời đều có thể bị quên đi, chỉ văn hoá là còn lại mãi. Có chiến công nào lớn hơn chiến công của văn hoá ? Và mọi chiến công khác, nếu còn muốn được nhắc tới thì đều phải mang ý nghĩa văn hoá.  Ông viết : "Sông Hương là vậy, dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước". Không, nhà văn không đơn thuần "tính đếm" hay kể lại những phẩm chất đa dạng của sông Hương. Lồng trong lời đánh giá khái quát mang tính chất ghi công đó, ông muốn đặc biệt nhấn mạnh đến vẻ đẹp văn hoá sâu xa, trầm tĩnh của sông Hương. Không phải ngẫu nhiên ở rất nhiều đoạn trong bài bút kí này, ông đã thường xuyên nghĩ tới Truyện Kiều, nhân vật Kiều khi nói về sông Hương. Đối với người Việt Nam, Truyện Kiều là tập đại thành của nền văn học, văn hoá dân tộc. Được so sánh, được liên hệ với Truyện Kiều chính là một niềm vinh dự. Nhưng một điều thú vị đáng nói là là trong Truyện Kiều luôn có vang bóng của sông Hương, của văn hoá sông Hương. Tác giả đã chứng minh điều này một cách tinh tế và thuyết phục, bằng mẫn cảm nghệ sĩ, bằng những hiểu biết sâu sắc về cuộc đời Nguyễn Du. Ông đã có một so sánh rất lạ, rất độc đáo nhưng cũng vô cùng chính xác : "Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya". Sự thực, câu văn không đơn thuần chỉ có so sánh. Nó chứa đựng (hay là thể hiện) một cái nhìn đồng nhất hoá, nâng sông Hương lên thành đích thực một linh hồn. Tác giả cũng kể lại cho ta một phát hiện bất ngờ chỉ có được ở những con người sống vì nghệ thuật, sống trong nghệ thuật : "Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều : "Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời"... Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dậy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên : 'Đó chính là Tứ đại cảnh !". Bằng lịch lãm văn chương, nghệ thuật của mình, sau khi đi một vòng để nêu lên chân lí "dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ", rằng sông Hương đã hiện hình với đủ cung bậc trong thơ của Tản Đà và Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan và Tố Hữu, tác giả lại khẳng định trong niềm ngạc nhiên của sự khám phá : "sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều".
            Viết về một dòng sông văn hoá, quả rất cần một tư thế văn hoá. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thể hiện được điều này trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? Rất nhiều trải nghiệm của một đời viết luôn gắn bó với con người, dân tộc và đất nước đã được đưa vào đây. Yêu sông Hương nhưng tình yêu ấy không ngăn cản ta yêu những dòng sông khác có trên trái đất. Và ngược lại, niềm thích thú được quan sát dáng nét độc đáo của những dòng sông thuộc các vùng miền từng qua lại làm tươi mới trong ta nỗi rung động bồi hồi rất đặc biệt trước dòng sông quê hương đã nuôi lớn cuộc đời mình. Ai đã đặt tên cho dòng sông ? - Câu hỏi ấy không chỉ phản ánh một khoảnh khắc xao xuyến của tâm tư. Cao hơn, nó hé lộ cho ta thấy một tâm thế sống luôn có trách nhiệm với cuộc đời, luôn biết ngạc nhiên về cái bí ẩn, phong phú vô tận của tạo vật.

 



[1] Cũng cần biết thêm rằng sông Hương còn là đối tượng thể hiện đầy rung động của nhiều hoạ sĩ và nhạc sĩ xuất sắc.
[2] Câu hỏi Ai đã đặt tên cho dòng sông ? được nhắc tới tất thảy ba lần trong tác phẩm (không kể nhan đề). Hai lần nhắc sau nằm trong các đoạn bị lược bỏ khi tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa. Đây chỉ nêu tư liệu nhằm mục đích tham khảo.
(Phan Huy Dũng)