Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

ÔN THI TỐT NGHIỆP 2013-2014: ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA (TÀI LIỆU THAM KHẢO)



ĐÀN GHI-TA CỦA LOR-CA (Thanh Thảo)

CÂU HỎI:  Trình bày những nét chính về tác giả Thanh Thảo.
- Thanh Thảo sinh năm 1946. Tên khai sinh là Hồ Thành Công. Quê ở Quảng Ngãi.
- Thanh Thảo là một trong những nhà thơ trưởng thành trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mĩ.
-Đặc điểm thơ Thanh Thảo:
+ Thơ ông là tiếng nói của người trí thức nhiều suy tư, trăn trở về vấn đề xã hội và thời đại và cũng đặc biệt quan tâm đến những con người tài hoa nhưng có số phận ngang trái, bất hạnh như: Nguyễn Đình Chiểu, Cao Bá Quát, A-ra-gông, Lor-ca,…
+Ông chú ý nhiều đến việc cách tân thơ ca: ông chú ý đến việc hướng nội, cái tôi chân thành, giàu cảm xúc, phá vỡ những ràng buộc hình thức trong thơ. Ông tìm đến lối thể hiện mới mẻ: câu thơ tự do, không chú ý ngắt nhịp hay hiệp vần; xây dựng những hình ảnh thơ mới mẻ với ngôn ngữ phong phú, mới lạ…
- Tác phẩm tiêu biểu: Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng cỏ (1978), Khối vuông ru-bích (1985),... Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

CÂU HỎI: Trình bày hoàn cảnh sáng tác , thể thơ, nhạc tính và ý nghĩa văn bản của bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo.
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca rút trong tập Khối vuông ru-bích. Đây là một trong những sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ Thanh Thảo: giàu suy tư, mãnh liệt, phóng túng, nhuốm màu sắc tượng trưng- siêu thực. Bài thơ lấy cảm hứng từ những giây phút bi phẫn trong cuộc đời của Lor-ca và câu nói  “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn (“Ghi nhớ” - Lor-ca) để sáng tác bài thơ này.
- Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do với phong cách tượng trưng có pha màu sắc siêu thực rất gần gũi với phong cách thơ Lor-ca: đề nghị lối viết tự động, cho rằng thơ là mạch cảm xúc tuôn tràn nên dường như không mạch lạc, hình ảnh mới lạ, không viết hoa đầu dòng, không ngắt câu.
- Nhạc tính: Bài thơ như giai điệu một bản nhạc, có phần nhạc đệm của Ghi ta cùng với chuỗi âm li la li la li la… Mở đầu và kết thúc bài thơ gợi lên tiếng vang giàu nhạc điệu, ngân nga trong lòng người đọc.
- Ý nghĩa văn bản:Ca ngợi vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn và tài năng của Lor-ca – nhà thơ, nhà cách tân vĩ đại của văn học Tây Ban Nha và thế giới thế kỉ XX.
CÂU HỎI: Trình bày ý nghĩa câu thơ đề từ: “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn
- Đây là câu thơ được rút từ bài thơ “Ghi nhớ” của Lor-ca, được nhà thơ Thanh Thảo lấy làm lời đề
từ cho bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca”. Câu thơ giống như lời di chúc của Lor-ca khi tiên cảm về cái chết của mình.
- Sau khi chết, Lor-ca muốn được chôn cùng với cây đàn, điều đó cho thấy: Tình yêu nghệ thuật của Lor-ca; Tình yêu thiết tha của người nghệ sĩ Lor-ca với xứ sở quê hương TBN.
- Lor-ca biết thi ca của mình một ngày nào đó sẽ trở thành vật cản cho những người đến sau, nên đã di chúc đối với những người làm nghệ thuật: hãy biết chôn nghệ thuật của ông để sáng tạo, để đem đến những cái mới cho nghệ thuật.

CÂU HỎI: Trình bày ý nghĩa nhan đề bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo?
- Đàn ghi ta (hay còn gọi là Tây Ban cầm) là nhạc cụ truyền thống của đất nước Tây Ban Nha. Nhan đề bài thơ gợi liên tưởng đến nền nghệ thuật của đất nước TBN.
- Đàn ghi ta gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Lor-ca. Vì vậy, hình ảnh đàn ghi ta ở nhan đề bài thơ tượng trưng cho khát vọng sáng tạo nghệ thuật của Lor-ca.
- Nhan đề như một lời khẳng định của nhà thơ Thanh Thảo: Đàn ghi ta của Lor-ca. Điều đó phần nào cho thấy niềm ngưỡng mộ và tấm lòng đồng cảm của TT đối với người nghệ sĩ thiên tài.

CÂU HỎI:  Cho biết nội dung, nghệ thuật của bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của nhà thơ Thanh Thảo.
1. Nội dung: Bài thơ đã xây dựng được hình tượng Lor-ca với những khía cạnh khác nhau: một nghệ sĩ tự do và cô đơn, một cái chết oan khốc, bi phẫn bởi những thế lực tàn ác, một tâm hồn nghệ sĩ bất diệt. Lor-ca là một hình tượng bi tráng về người nghệ sĩ chân chính trong một môi trường bạo lực thống trị đã sống và chết rất cao đẹp. Qua việc thể hiện cái chết đau xót của Lor-ca, bài thơ còn là tiếng nói tri âm của Thanh Thảo với nghệ thuật chân chính và nghệ sĩ Lor-ca.
2. Nghệ thuật: Hình thức nghệ thuật độc đáo: kết hợp hai yếu tố thơ và nhạc về kết cấu; mang phong cách tượng trưng pha màu sắc siêu thực rất gần gũi với phong cách thơ Lor-ca; Hình ảnh thơ phong phú, ngôn từ mới mẻ góp phần làm nên diện mạo phong phú của thơ ca Việt Nam sau 1975.


CÂU HỎI: Nêu chủ đề của bài thơ:
   Chủ đề: Qua hình tượng Lor – ca và tiếng đàn ghi ta, tác giả diễn tả cái chết bi tráng đột ngột của người nghệ sỹ đấu tranh cho tự do và cách tân nghệ thuật. Đồng thời, bày tỏ nỗi đau xót sâu sắc và niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của tên tuổi và sự nghiệp Lor-ca.

CÂU HỎI: Anh (chị) hãy giải thích ý nghĩa nhan đề và lời đề từ bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của nhà thơ Thanh Thảo.
1. Nhan đề:
- Đàn ghi ta không chỉ là nhạc cụ truyền thống của Tây Ban Nha mà còn được coi là biểu tượng nghệ thuật ở đất nước này.
- Lor-ca là nhà thơ, nhạc sĩ, kịch  gia nổi tiếng người Tây Ban Nha, người đại diện cho tinh thần tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật của thế kỉ 20 -> Đàn ghi ta là biểu tượng cho khát vọng cao cả mà Lor-ca phấn đấu suốt đời, khát vọng đấu tranh cho tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật.
=> Nhan đề “Đàn ghi ta của Lor-ca” thể hiện cảm xúc, suy tư của tác giả về cuộc đời, sự nghiệp và vẻ đẹp tâm hồn của Lor-ca.
2. Lời đề từ: “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”
- Đây là lời di chúc của Lor-ca bộc lộ tình yêu say đắm của Lor-ca với nghệ thuật, với xứ sở Tây Ban Nha.
- Là một nhà cách tân nghệ thuật, Lor-ca biết một ngày nào đó, thơ ca của mình sẽ án ngữ, ngăn cản những người đến sau trong sáng tạo nghệ thuật nên ông đã dặn lại những thế hệ sau: Hãy “chôn” nghệ thuật của ông để bước tiếp, để sáng tạo những đỉnh cao nghệ thuật mới.

CÂU HỎI: Những nét chính về nhà thơ Lor-ca (1898-1936 )
  _ Lorca nhà thơ tiêu biểu của Tây Ban Nha ở thế kỉ XIX . Trước một đất nước Tây Ban Nha bị cai trị theo kiểu độc tài về chính trị và sự già cỗi về nghệ thuật, Lor-ca vừa cổ vũ nhân dân đấu tranh đòi quyền sống chính đáng ,vừa khởi xướng, thúc đẩy cách tân trong nghệ thuật
  _ Hoảng sợ trước sự ảnh hưởng xã hội to lớn của ông, năm 1936, bọn phát xít bắt giam và bắn chết ông . Cái chết ấy đã dấy lên một làn sóng phẫn nộ, tên tuổi ông trở thành 1 biểu tượng của văn hóa TBN và thế giới chống phát xít.
NỘI DUNG BÀI THƠ:
1. 6 câu đầu: Hình ảnh Lorca: Con người đấu tranh cho tự do, người nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật TBN
_ Hình ảnh Lorca xuất hiện trong tiếng đàn đầy ám ảnh:
“ Những tiếng đàn bọt nước
                  ……..mỏi mòn”
_ Những hình ảnh trong đoạn thơ giúp chúng ta hình dung ra không khí thời Lorca sống. Lúc này TBN bị cai trị bởi chính quyền độc tài, nền nghệ thuật còn xưa cũ. Muốn thay đổi những điều đó Lorca đã đấu tranh đổi mới:
+ “Tiếng đàn bọt nước” là thân phận bọt bèo ngắn ngủi , là bi kịch người  nghệ sĩ Lorca
+ “ Áo choàng đỏ gắt” gợi khát vọng đấu tranh và khung cảnh đấu trường của chàng kỵ sĩ cô đơn. Đó cũng là đấu trường của người chiến sĩ Lor-ca đối đầu với chính quyền , của người nghệ sĩ Lor-ca có khát vọng cách tân đối đầu với nền nghệ thuật lạc hậu.
+ Những hình dung từ “ chếnh chóang” , “ mỏi mòn” , “ đơn độc” , gợi nhớ hình ảnh Lor-ca cô đơn trong cuộc đấu tranh ấy. Phải chăng đây cũng là bi kịch của những người chiến sĩ tiên phong?
+ Âm thanh “ li-la li-la li-la” của tiếng đàn ghi ta làm nổi bật người nghệ sĩ hát rong Lor-ca – người đã dùng tiếng đàn để giãy bày khát vọng yêu thương nhân dân mình.
=> Đây là những hình ảnh tượng trưng, siêu thực, giàu biểu tượng, thể hiện phép tương giao,  nhất là lối sắp đặt trường phái nghệ thuật tượng trưng . Nó gợi sự tương phản giữa âm thanh nhỏ bé và màu sắc gay gắt; giữa tiếng đàn nghệ sĩ với áo chòang đấu sĩ; giữa nghệ thuật và bạo lực; giữa số phận con người với hiện thực dữ dội.
2. 16 câu tíếp theo: Lor-ca bị sát hại và sự dang dở của khát vọng cách tân nghệ thuật của Lor-ca vì không ai kế tục
-Đây là những dòng tự sự làm cái chết của Lor-ca hiện rõ
                                    “ Tây Ban Nha….
                                       ……mộng du”
 + Các hình ảnh đối lập “ TBN – hát nghêu ngao” , “ bỗng kinh hoàng áo chòang bê bết đỏ” gợi sự thương tâm, bi tráng, phủ phàng : cái chết đến quá bất ngờ với Lor-ca . Tiếng hát ngợi ca cái đẹp bị vùi dập không thương tiếc
 + Dù luôn bị ám ảnh bởi cái chết của mình, nhưng Lor-ca không nghĩ nó lại đến sớm như vậy – đến vào lúc chàng không ngờ nhất.  Cho nên, khi “ bị điệu về bãi bắn – chàng đi như người mộng du”
 - Tiếp theo. cái chết của Lor-ca được diễn tả qua những yếu tố tương phản đậm màu sắc siêu thực : âm thanh , màu sắc, hình khối, dòng máu chảy:
                                     Tiếng ghita nâu
                                         ….. máu chảy
+ Tiếng đàn ghi ta được lặp lại vừa diễn tả cảm xúc mãnh liệt, đa chiều trong thơ của ông, vừa khẳng định sự phong phú về nội dung của thơ Lor-ca: “ tiếng ghi ta nâu” trầm tĩnh nghĩ suy; “ tiếng ghi ta lá xanh biết mấy”  thiết tha, hi vọng; “ tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan” bàng hòang, sửng sốt, tức tưởi; “tiếng ghita ròng ròng máu chảy” đau đớn nghẹn ngào.
+ Trong tiếng đàn ghi ta, nỗi đau, tình yêu, cái chết và sự bất tử hòa vào nhau thành giai điệu bi thương
  -Từ sự đồng cảm , tri ân với khát vọng và bi kịch của người nghệ sĩ , Thanh Thảo nói lên những suy tưởng sâu xa về số phận của nghệ thuật
                                      “ Không ai chôn cất tiếng đàn
                                         …………….đáy giếng”
 + Tác giả ngầm hướng người đọc hiểu bài thơ bằng việc đưa di chúc của Lor-ca ở lời đề từ “ khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” . Nó có những nét nghĩa: tình yêu say đắm của Lor-ca với nghệ thuật; tình yêu tha thiết của tác giả đối với xứ sở TBN; nhà cách tân Lor-ca biết một ngày nào đó thơ ca của mình sẽ cản trở những người đến sau trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật . Do đó, ông dặn phải dũng cảm chôn nghệ thuật của ông đi để làm nên cái mới . Đó là đạo đức của người nghệ sĩ lớn
+ Câu thơ “ không ai chôn cất tiếng đàn – Tiếng đàn như cỏ mọc hoang” gợi lên nhiều suy tưởng: Sự bất tử của nghệ thuật, dù bọn phản động có thể giết Lor-ca nhưng ko thể hủy diệt tiếng đàn của ông. Nó vẫn sống, phát triển mạnh mẽ như môt thứ “ cỏ mọc hoang”. Là nỗi xót thương cái chết của 1 thiên tài. Sự tiếc nuối hành trình cách tân dang dở của Lor-ca, cũng tiếc nuối cho nền văn chương TBN vì nhà cách tân đã chết, nghệ thuật thiếu người dẫn dắt nên nó trở thành “cỏ mọc hoang”.
+ Hình ảnh đẹp mà buồn “ giọt nước mắt vầng trăng long lanh đáy giếng” cũng tạo nên những liên tưởng đa chiều; Đó có thể là lời ngợi ca : cái đẹp của thơ Lor-ca long lanh như ánh sáng vầng trăng sẽ tồn tại mãi. Đó cũng là sự thương xót ,tri âm của Thanh Thảo ( nước mắt ) trước vầng trăng nghệ thuật rất đẹp của Lor-ca
c. 9 dòng cuối : Nghĩ về cuộc giải thóat , tác giả giã từ Lor-ca và sức sống của nghệ thuật
- Dự cảm về cái chết của mình, Lor-ca đau đớn chấp nhận số phận:
                                       “ Đường chỉ tay đã đứt
                                          …….li- la li-la li-la…..
+ “Đường chỉ tay đã đứt » biểu tượng cho số phận ngắn ngủi , định mệnh đã đặt dấu chấm hết trên đường đời của một con người tài hoa.
 + “Dòng sông rộng vô cùng” là biểu tượng cho dòng sông số phận và cũng là ranh giới giữa sự sống và cái chết.
_ Nhà cách tân chết khi sự sáng tạo đổi mới không ai tiếp bước. Nhưng còn đau đớn hơn khi tên tuổi và sự nghiệp của anh ta trở thành một vật cản cho sự sáng tạo của các thế hệ sau. Cho nên, Lor-ca giã từ, giải thoát cho người ta khỏi cái bóng của mình bằng cách :
                                      Lor-ca bơi sang ngang
                                         Trên chiếc ghita màu bạc
 -Chàng giã từ cách quyết liệt :
                                       Chàng ném lá bùa cô gái Di-gan
                                                            ……bất chợt
Các hành động “ ném lá bùa” , “ ném trái tim” mang ý nghĩa tượng trưng cho sự giã từ giải thóat , chia tay thực sự với những ràng buộc, những hệ lụy của trần gian.
- Chuỗi âm thanh “ li-la li-la li-la” kết thúc bài thơ tạo cho nó có cấu trúc như một bản giao hưởng , gợi sự hồi sinh của Lor-ca trong giai điệu bất tử của xứ sở TBN . Tiếng đàn , nghệ thuật , tình yêu và khát vọng tự do của Lor-ca tồn tại mãi mãi.
3/ KẾT LUẬN
- Bài thơ “ Đàn ghita của Lor-ca” bộc lộ nỗi đau xót sâu sắc trước cái chết bi thảm của Lor-ca. Đồng thời Thanh Thảo thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của tên tuổi và sự nghiệp của Lor-ca
  - Hình tượng Lor-ca được biểu đạt bằng hình thức độc đáo: cấu tứ hài hòa giữa thơ và nhạc, hình ảnh phong phú và đa dạng, ngôn từ mới mẻ, gợi cảm. 

ÔN THI TỐT NGHIỆP 2013-2014: SÓNG (TÀI LIỆU THAM KHẢO)



SÓNG – XUÂN QUỲNH
CÂU HỎI:  Trình bày những nét chính về đặc điểm thơ Xuân Quỳnh.
- Xuân Quỳnh (1942- 1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh. Quê ở tỉnh Hà Tây. Xuất thân trong một gia đình công chức. Xuân Quỳnh từng là diễn viên múa sau chuyển sang sáng tác vh.
- Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ.
*Đặc điểm thơ Xuân Quỳnh: Thơ bà  là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường.

CÂU HỎI:  Nêu ý nghĩa nhan đề bài thơ “Sóng”.
-Sóng là hình tượng đẹp của thiên nhiên. Nhiều nhà thơ thường mượn hình tượng sóng để biểu đạt những sắc thái tình cảm của mình: buồn mênh mang, vui bất tận, hay tình yêu ào ạt của con người…
-Trong bài thơ “Sóng”: sóng là hình tượng xuyên suốt dọc bài thơ, sóng vừa là sóng biển vừa  gắn liền với sức sống và vẻ đẹp của tâm hồn người phụ nữ - những con sóng tình xôn xao, rạo rực trong trái tim người phụ nữ khi yêu, vừa là biểu tượng cho tình yêu nồng ấm, dào dạt, tha thiết, bền bỉ và vĩnh hằng.
CÂU HỎI: Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Sóng” – XQ và cho biết ý nghĩa văn bản
*Hoàn cảnh sáng tác (...).
*Ý nghĩa văn bản: Bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thuỷ, vượt lên mọi giới hạn của đời người.
CÂU HỎI : Nêu nội dung và nghệ thuật cơ bản của bài thơ Sóng”.
- Nội dung: Bài thơ là sự cảm nhận về tình yêu từ hình tượng sóng với tất cả những sắc thái, cung bậc (nỗi nhớ, sự thủy chung, trắc trở) và cả khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu của một tâm hồn phụ nữ luôn chân thành, khát khao hạnh phúc.
- Nghệ thuật: Thể thơ năm chữ, nhịp điệu thơ đa dạng, linh hoạt tạo nên âm hưởng của những con sóng: lúc dạt dào sôi nổi, lúc sâu lắng dịu êm rất phù hợp với việc gởi gắm tâm tư sâu kín và những trạng thái tình cảm phức tạp của tâm hồn. Hai hình tượng Sóng và Em đều là phân thân của chủ thể trữ tình. Hai hình tượng này có lúc phân đôi để soi chiếu vào nhau, có khi hoà nhập làm một để cùng hướng về một tình yêu lí tưởng. Cấu trúc bài thơ được xác lập theo kiểu đan xen giữa các hình tượng sóng-bờ, anh-em cũng góp phần làm nên nét đặc sắc cho bài thơ.

CÂU HỎI: Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình tượng sóng và mối quan hệ giữa hai hình tượng “sóng” và “em” trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh.
- Tựa đề bài thơ là “Sóng”. Đây cũng chính là hình tượng trung tâm của bài thơ. Xuân Quỳnh đã nối tiếp truyền thống trong thơ ca là lấy sóng để hình dung tình yêu, đem sóng nước so sánh với sóng tình: “Sóng tình dường đã xiêu xiêu/ Xem trong âu yếm có chiều lả lơi” (Nguyễn Du). Dù tiếp nối truyền thống văn học nhưng “sóng” của Xuân Quỳnh vẫn có những nét độc đáo riêng. Có thể nói, cả bài thơ là những con sóng tâm tình xôn xao, rạo rực được khơi dậy trong trái tim một người phụ nữ khi đứng trước biển cả, đối diện với những con sóng muôn trùng. Tác giả nói với mình, nói với người về tình yêu trẻ trung nồng nhiệt gắn với khát vọng hạnh phúc muôn thuở của con người.
- Trong bài thơ còn có một hình tượng trữ tình nữa, đó là “em” (“em” cũng là “sóng” mà “sóng” cũng là “em”). “Sóng” là một hình tượng ẩn dụ, là sự hóa thân của cái tôi trữ tình của nhà thơ. “Sóng” và “em” vừa hòa nhập làm một, lại vừa phân đôi ra để soi chiếu vào nhau. Tâm hồn của người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng biểu hiện những trạng thái của lòng mình. Với hình tượng “sóng”, Xuân Quỳnh đã tìm đuợc một cách thể hiện xác đáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình  yêu. Cấu trúc song hành này tạo thành chiều sâu nhận thức và nét độc đáo riêng cho bài thơ.
                            
CÂU HỎI: Hoàn cảnh sáng tác và chủ đề bài “Sóng” của Xuân Quỳnh.
* Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ “Sóng” được nhà thơ Xuân Quỳnh sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). In trong tập “Hoa dọc chiến hào” (1968). Bài thơ viết trong thời kì kháng chiến chống Mĩ rất ác liệt trên cả nước, văn học thời đại thường âm vang cảm hứng anh hùng ca, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam còn bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hầu như chỉ viết về tình yêu và khát vọng hạnh phúc đời thường nhưng nó không hề lạc lõng bởi nó khẳng định tình yêu, hạnh phúc luôn rất cần thiết, nó là động lực lớn lao giúp con người vượt lên mọi thử thách.
- Là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.
* Chủ đề: Qua hình tượng “sóng”, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hoà hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thuỷ, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.

NỘI DUNG BÀI THƠ:
1.                     Âm điệu của bài thơ.
- Đây là âm điệu của những con sóng trên biển cả, và sâu xa hơn đó là nhịp của những cơn “sóng lòng” nhiều cung bậc, sắc thái cảm xúc trong trái tim người phụ nữ.
- Âm điệu đó được tạo nên bởi 2 yếu tố: thể thơ 5 chữ; cách tổ chức ngôn ngữ, cách ngắt nhịp. Các yếu tố này được dùng linh hoạt phóng túng đã gơị lên nhịp sóng biển (và cả sóng lòng) khi dịu êm nhẹ nhàng, khi dồn dập dữ dội.
2.                     Ý nghĩa hình tượng sóng.
- Ý nghĩa hình tượng sóng bao trùm cả tác phẩm, ở lớp nghĩa thực nó được miêu tả cụ thể sinh động, với nhiều trạng thái mâu thuẫn, thậm chí là trái ngược nhau. Ở lớp nghĩa biểu tượng sóng như có hồn, có tính cách, có tâm trạng, biết giải bày bộc bạch, diễn tả sự phong phú và phức tạp nhiều khi đầy mâu thuẫn trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu: lúc bồng bột sôi nổi, lúc kín đáo sâu sắc.
- Hình tượng “sóng” và “em” đang cài, tồn tại song song soi sáng cho nhau, thể hiện cái tôi trữ tình của tác giả.
3.                     Phân tích các khổ thơ.
a/ Sóng và tình yêu trong trái tim phụ nữ.(khổ 1,2)
Đây là trạng thái đặc biệt trong tâm hồn người con gái đang yêu.
“Dữ dội và dịu êm
….
Sóng tìm ra tận bể”
- Từ những đặc tính đối lập của sóng (dữ dội, ồn ào, dịu êm, lặng lẽ), t/g đã diễn tả trạng thái khác thường phong phú, phức tạp, đối lập trong trái tim đang yêu: có lúc khao khát cháy bỗng, có lúc tha thiết nồng nàn.
- Mặt khác, trong suy niệm của Xuân Quỳnh, thì muốn hiểu bản chất của tình yêu của người thiếu nữ (phụ nữ), người thanh niên (đàn ông) phải biết vượt qua những gì nông nổi ồn ào bên ngoài để khám phá bản chất dịu êm, khiêm nhường bên trong tâm hồn người phụ nữ.
- Vượt qua quan niệm về tình yêu bình thường quanh quẩn, sóng theo sông xuôi dòng ra biển lớn, hòa nhập cùng đại dương dể hiểu hết chính bản thân mình. Đó là quan niệm sâu sắc, nghiêm túc về tình yêu của nhân vật trữ tình.
- Cũng từ “sóng” nhà thơ phát hiện ra một quy luật: sóng muôn đời không thay đổi thì khát vọng tình yêu của con người cũng là vĩnh hằng, nhất là ở người trẻ tuổi.
b/ Sóng và nguồn gốc của tình yêu.(khổ 3,4)
 Người con gái muốn phân tích lí giải tình cảm của mình nên:
“Trước muôn trùng sóng bể
Khi nào ta yêu nhau”
Câu hỏi « tình yêu có từ đâu, vì sao ta yêu nhau ? »  làm cho người con gái băn khoăn muốn lí giải nhưng bất lực. Xuân Diệu - ông hoàng của thơ tình - cũng từng ngỡ ngàng, băn khoăn :“làm sao cắt nghĩa được tình yêu ?”. Xuân Quỳnh củng như vậy, nhưng tình yêu như sóng biển, như mây trời làm sao hiểu hết đuợc.
Những câu phủ định, những câu móc xích,  nhịp thơ nhanh bộc lộ sự dễ thương và khẳng định sự huyền bí của tình yêu: « Sóng bắt đầu từ gió…khi nào ta yêu nhau. »
c/ Sóng và nỗi nhớ của em, tình yêu của em.( khổ 5,6,7)
Suy tư về sóng, về tình yêu, người con gái tìm được những điều tương đồng :
« Con sóng dưới lòng sâu
………
Dù muôn vời cách trở. »
-Tình yêu gắn với nổi nhớ khi xa cách. Con sóng dù ở dưới sâu hay trên mặt nước cũng muốn được trở về với bờ. Em cũng vậy, nổi nhớ thường trực ngập tràng cỏi lòng có khi thức lẫn khi ngủ, cả trong tiềm thức lẫn trong ý thức.
- Nhà thơ cố ý nói ngược cách nói thông thường – xuôi vào Nam ngược ra Bắc - mà chẳng hề bận lòng. Tình yêu tạo ra một phương mới mà chẳng ai thấy lạ - « phương anh. »  Vì sao? Vì những nghịch lý ở trên là vẻ bề ngoài, là cách nói che giấu bên trong một hạt nhân rất phù hợp với tâm lý của người đang yêu, đang xa, đang nhớ và đang muốn đốt trái tim mình trong ngọn lửa tình yêu. Xuôi hay ngược, Bắc hay Nam không quan trọng. Kim la bàn trong trái tim em luôn quay về hướng có anh.
- Tin vào tình yêu, nhà thơ biết dù khó khăn, nghiệt ngã, thử thách, nhưng tình yêu đích thực rồi sẽ cập bến bờ hạnh phúc:
“Trăm ngàn con sóng nhỏ
Dù muôn vời cách trở”
Xuân Quỳnh quan sát rất tinh tế, nên phát hiện ra « sóng » ở nhiều tầng. Nhà thơ còn dùng dùng biện pháp đối (xuôi ngược Nam Bắc) và hình ảnh mới mẻ (trong mơ còn thức), để thể hiện được nổi nhớ mãnh liệt, sôi nổi và chân thành.
d/ Sóng và khát vọng tình yêu của em. (khổ 8,9)
Xuân Quỳnh viết bài thơ này khi đã có một lần đổ vỡ trong tình yêu. Cho nên, dù tình cảm sôi nổi, mãnh liệt, nhà thơ vẫn không thể không có những nỗi lo âu:
“Cuộc đời tuy dài thế
…Mây vẫn bay về xa”
-  Ngẫm về các quy luật của tự nhiên -biển dù rộng nhưng vẫn có bờ, cuộc đời tình yêu không thể vĩnh hằng, mây không thể ngừng trôi- Xuân Quỳnh nhận ra rằng : hạnh phúc cũng thế, nhiều khi mong manh dễ vỡ, cho nên lời thơ như một nỗi suy tư, trăn trở.
- Cũng như bao người khác, Xụân Quỳnh cũng khao khát sự vô cùng, sự tồn tại mãi mãi của hạnh phúc với cuộc đời:
Làm sao được tan ra
…Để ngàn năm còn vỗ”
- Đời người có giới hạn, nhưng tình yêu thì có thể vô cùng. Vậy nên, Xuân Quỳnh khao khát gởi mình vào hình tượng sóng  để hoá thân vào tình yêu, vào biển lớn. Vì con người có thể mất đi, nhưng tình yêu là vĩnh hằng, sóng kia “ngàn năm còn vỗ”.  Câu thơ thể hiện một khát vọng đầy nữ tính: muốn hoà nhập cái riêng nhỏ bé vào cái chung bao la rộng lớn để tình yêu bất diệt. Đó cũng là khát vọng sống hết mình với tình yêu của tác giả khi ý thức được sự hữu hạn của cuộc đời.
KẾT LUẬN
- Bài thơ “Sóng” tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Hình tượng sóng là một tìm tòi nghệ thuật độc đáo của Xuân Quỳnh.
- Trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hoà hợp giữ sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ nồng nàn, tha thiết, chung thủy, muốn vượt qua thử thách của thời gian, giới hạn của đời người để có tình yêu cao đẹp, hạnh phúc lớn lao.
- Thể thơ 5 chữ ngắt nhịp linh hoạt, gieo vần khá tự do thể hiện được nôi dung trên.